vanban.org

Bản án 86/2021/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Điện Biên Tuyên án 19/08/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố: bị cáo Mùa A C (tên gọi khác: không) phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Mùa A C 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/4/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mùa A C - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 86/2021/HS-ST
Ngày: 19-8-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Hòa.

Thẩm phán: bà Bùi Thị Thu Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân: bà Hà Thị Vũ.

Bà Nguyễn Thị Khuyên.

Bà Phan Thị Tân.

- Thư ký phiên tòa: bà Vi Tố Uyên, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: ông Lê Thanh Hải, Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 82/2021/TLST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2021/QĐXXST- HS ngày 04 tháng 8 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên đối với bị cáo:

Mùa A C (tên gọi khác: không), sinh năm: 1993, tại huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở trước khi bị bắt: bản H, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: làm nương; Trình độ văn hóa: không; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Mùa A V (đã chết) và bà Giàng Thị Ch (đã chết); năm 2014 chung sống như vợ chồng với chị Vàng Thị C, sinh năm 1996 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2015, con nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án: không; Tiền sự: không; Nhân thân: chưa bị kết án và chưa bị xử lý vi phạm hành chính; Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 10/4/2021, tạm giam từ ngày 13/4/2021 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Mùa A C: bà Hà Thị T, trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên, có mặt.

Người chứng kiến: ông Dương Văn K - Sinh năm: 1966; trú tại: bản P, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, vắng mặt.

Người phiên dịch: anh Sùng A C, sinh năm 2000; trú tại: tổ 7, phường M, thành phố P, tỉnh Điện Biên, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 03/2021, bị cáo Mùa A C nhận được điện thoại của một người đàn ông giới thiệu tên là T, dân tộc Mông ở huyện T, tỉnh Điện Biên, T đặt vấn đề mua ma túy, nhưng không nói rõ số lượng, do chưa có ma túy nên bị cáo C hẹn khi nào có ma túy sẽ thông báo cho T sau. Đến chiều ngày 08/4/2021, bị cáo C gọi điện cho Lầu A L ở bản H, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào là người quen trước đây để đặt mua nợ 15 triệu đồng ma túy (gồm Hồng phiến và Heroine) và hẹn sáng ngày 09/4/2021, trao đổi mua bán tại khu vực biên giới Việt Nam - Lào giáp với bản Búng Bửa, xã Na Ư, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên (Việt Nam). Sáng ngày 09/4/2021, bị cáo C đi bộ lên khu vực biên giới gặp Lầu tại điểm hẹn và mua nợ được 02 túi Hồng phiến với giá 2.500.000 đồng/01 túi và 05 cục Heroine to gần bằng bao diêm với giá 10.000.000 đồng, Lầu cho thêm bị cáo C 01 chiếc cân tiểu ly. Bị cáo C mang số ma túy trên về nhà cho vào chiếc túi vải rồi cất giấu cạnh giường ngủ của bị cáo. Sau đó, bị cáo C nhận được điện thoại của T gọi đến hỏi mua 15.000.000 đồng, gồm 01 túi Hồng phiến và Heroine; hai bên thống nhất chiều ngày 10/4/2021, giao dịch tại khu vực bản P, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Chiều ngày 10/4/2021, bị cáo C lấy 02 cục Heroine, 01 túi Hồng phiến và lấy 01 chiếc cân tiểu ly cho vào chiếc túi khoác màu đen có chữ Nike mang đi bán cho T, số ma túy còn lại bị cáo C cất giấu ở chỗ cũ mục đích ai hỏi mua thì bán kiếm lời. Trước khi đi, bị cáo C sang nhà anh Mùa A T ở cùng bản mượn chiếc xe máy nhãn hiệu WININDO, biển kiểm soát 27B1 - 843.09 và nói là đi mua thức ăn. Khoảng 15 giờ 45 phút ngày 10/4/2021, bị cáo C đến chỗ hẹn gặp T, trong lúc bị cáo C đang trao đổi mua bán ma túy thì bị Công an tỉnh Điện Biên phát hiện bắt giữ cùng vật chứng là 01 túi ma túy Methamphetamine có khối lượng 20 gam và 02 cục Heroine có khối lượng 41,31 gam, còn T bỏ chạy thoát. Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của bị cáo C thu giữ được 01 túi Methamphetamine có khối lượng 18,63 gam, 03 cục Heroine có khối lượng 22,99 gam và 01 chiếc cân tiểu ly ở cạnh giường ngủ của bị cáo C.

Tại bản Kết luận giám định số: 429/GĐ-PC09, ngày 19/4/2021, của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Điện Biên kết luận: 03 mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của Mùa A C gửi giám định là chất ma túy loại Heroine; 02 mẫu viên nén màu hồng trích ra từ vật chứng thu giữ của Mùa A C gửi giám định là chất ma túy: Loại Methamphetamine. Khối lượng vật chứng thu giữ của Mùa A C gồm 64,3 gam chất bột màu trắng và 38,63 gam viên nén màu hồng.

Cáo trạng số 43/CT-VKS-P1 ngày 30/6/2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên đã truy tố bị cáo Mùa A C về tội Mua bán trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Mùa A C về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm như sau: tuyên bố bị cáo Mùa A C phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy, áp dụng điểm h khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Mùa A C 20 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Về vật chứng của vụ án, đề nghị HĐXX áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý vật chứng như sau: tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau khi trích mẫu vật gửi giám định đã được niêm phong; tịch thu tiêu hủy: 02 cân tiểu ly làm bằng gỗ + 01 túi khoác nhỏ có dây đeo màu đen nhãn hiệu NIKE đã qua sử dụng + 01 chiếc túi vải thổ cẩm hoa văn có dây đeo, đã qua sử dụng thu giữ của Mùa A C. Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, màn hình cảm ứng, điện thoại đã cũ đã qua sử dụng thu giữ của Mùa A C. Về án phí, đề nghị áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến tranh luận về tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên đã truy tố và bản luận tội của Kiểm sát viên. Đề nghị HĐXX xem xét điều kiện sinh sống của bị cáo: do bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn nhận thức pháp luật có phần hạn chế, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo phạm tội do hám lợi; bị cáo không có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng; trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo về toàn bộ hành vi phạm tội của mình, đề nghị HĐXX xem xét áp dụng điểm h khoản 4 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo ở mức án thấp hơn mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị, để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại; miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Người chứng kiến ông Dương Văn K trình bày tại cơ quan điều tra: khoảng 15 giờ 45 phút ngày 10/4/2021, ông được tổ công tác Công an tỉnh Điện Biên mời chứng kiến việc bắt giữ bị cáo Mùa A C, khi bắt giữ bị cáo C cán bộ thu giữ được 02 cục chất bột màu trắng và 01 túi viên nén màu hồng. Ông K nghe thấy bị cáo C khai nhận 01 túi viên nén màu hồng là ma túy hồng phiến và 02 cục chất bột màu trắng là Heroine, bị cáo mua của Lầu với giá 15.000.000 đồng, đang giao dịch mua bán kiếm lời với đối tượng tên T nhà ở huyện T Chùa thì bị bắt giữ. Việc khai báo của bị cáo là tự nguyện không ai ép buộc, không bị ai đánh đập.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, trong lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi phạm tội:

Qua tranh tụng công khai tại phiên tòa có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định: nhằm tìm kiếm lợi nhuận, nên chiều ngày 08/4/2021, bị cáo C gọi điện cho Lầu A L ở bản H, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào là người quen trước đây để đặt mua nợ 15.000.000 đồng ma túy. Sáng ngày 09/4/2021, bị cáo C đi bộ lên khu vực biên giới Việt Nam - Lào giáp với bản B, xã N, huyện B, tỉnh Điện Biên (Việt Nam) gặp L và mua nợ được 02 túi Hồng phiến với giá 2.500.000 đồng/01 túi và 05 cục Heroine to gần bằng bao diêm với giá 10.000.000 đồng. Bị cáo C mang số ma túy trên về nhà cho vào chiếc túi vải rồi cất giấu cạnh giường ngủ của bị cáo. Chiều ngày 10/4/2021, bị cáo C lấy 02 cục Heroine, 01 túi Hồng phiến và lấy 01 chiếc cân tiểu ly cho vào chiếc túi khoác màu đen có chữ Nike mang đi bán cho đối tượng tên T, số ma túy còn lại bị cáo C cất giấu ở nhà với mục đích ai hỏi mua thì bán kiếm lời. Khoảng 15 giờ 45 phút ngày 10/4/2021, bị cáo C đến chỗ hẹn gặp T, trong lúc bị cáo C đang trao đổi mua bán ma túy thì bị Công an tỉnh Điện Biên phát hiện bắt giữ cùng vật chứng là 01 túi ma túy Methamphetamine có khối lượng 20 gam và 02 cục Heroine có khối lượng 41,31 gam. Cùng ngày, khi tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của bị cáo C, Công an thu giữ được 01 túi Methamphetamine có khối lượng 18,63 gam, 03 cục Heroine có khối lượng 22,99 gam và 01 chiếc cân tiểu ly ở cạnh giường ngủ của bị cáo C. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang (BL 01 - 02); biên bản khám xét (BL 05-06); biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ (BL 07, 08); biên bản mở niêm phong và xác định khối lượng lấy mẫu giám định chất ma túy và niêm phong lại vật chứng (BL 28-31); kết luận giám định (BL 35); biên bản ghi lời khai của chứng kiến Dương Văn Khoản (BL 109-110) và phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định bị cáo Mùa A C mua 38,63 gam Methamphetamine và 64,3 gam Heroine để bán tìm kiếm lợi nhuận. Hành vi của bị cáo gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội, đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy, tổng khối lượng ma túy là 102,93 gam, do đó bị cáo phải bị áp dụng tình tiết tăng nặng định khung quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 43/CT-VKS-P1 ngày 30/6/2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo về tội danh, điểm, khoản, điều luật áp dụng là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ hành vi của mình Nhà nước nghiêm cấm. Hành vi của bị cáo xâm phạm chính sách thống nhất quản lý của Nhà nước về chất ma túy mà trực tiếp là hoạt động mua, bán chất ma túy. Bị cáo biết việc Nhà nước cấm tất cả các hành vi mua bán trái phép chất ma túy, biết tác hại của ma túy với đời sống sức khỏe của con người, nhưng nhằm tìm kiếm lợi nhuận bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy.

Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Bị cáo Mùa A C sinh ra và cư trú tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; bản thân không được gia đình tạo điều kiện học tập văn hóa. Bị cáo không có tiền sự; không có tiền án; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ, quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên và Người bào chữa cho bị cáo áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo.

Về hình phạt chính:

Từ các phân tích tại các đoạn [1], [2], [3], Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải xử phạt bị cáo mức hình phạt tù có thời hạn phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên về hình phạt chính đối với bị cáo là có căn cứ Hội đồng xét xử chấp nhận. Đề nghị của Người bào chữa cho bị cáo về hình phạt chính đối với bị cáo là không có căn cứ, Hội đồng xét xử không chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung:

Căn cứ vào biên bản xác minh tài sản của cơ quan cảnh sát điều tra và qua tranh tụng tại phiên tòa cho thấy, gia đình bị cáo không có tài sản gì giá trị; bị cáo không có thu nhập thường xuyên (BL 72), đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên và Người bào chữa cho bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo là phù hợp Hội đồng xét xử chấp nhận.

Các vấn đề khác của vụ án:

Đối tượng tên T là người đặt mua ma túy của bị cáo và đối tượng tên Lầu đã bán ma túy cho bị cáo, quá trình xác minh Cơ quan cảnh sát điều tra không xác minh được con người cụ thể, do đó, Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.

Về vật chứng: áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xử lý như sau:

- 61,13 gam Heroine và 37,69 gam Methamphetamine còn lại sau khi trích mẫu vật gửi giám định đã được niêm phong thu giữ của Mùa A C, là vật Nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, màn hình cảm ứng, điện thoại cũ đã qua sử dụng thu giữ của Mùa A C, quá trình tố tụng làm rõ, bị cáo không sử dụng điện thoại vào việc mua bán trái phép chất ma túy. Do đó, cần trả lại điện thoại cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu WININDO màu đen, biển kiểm soát 27B1-843.09, số khung RL9XCJWVNJBL00673, số máy VBL152FMJW1000673 thu giữ của Mùa A C. Quá trình tố tụng đã làm rõ xe thuộc sở hữu hợp pháp của anh Mùa A T, ngày 10/4/2021, bị cáo C mượn xe của anh Thái để đi, việc bị cáo C sử dụng xe máy để mang ma túy đi bán anh T không biết. Do đó, ngày 10/6/2021 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Điện Biên đã trả lại chiếc xe máy nói trên cho anh Mùa A T (BL 41-45). Việc xử lý vật chứng của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Điện Biên đúng theo quy định tại các Điều 36 và 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí:

Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Quyết định số 433/QĐ-UBDT, ngày 18/6/021 của Ủy ban dân tộc phê duyệt danh sách các thôn đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Mùa A C.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân nhân tỉnh Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện theo đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, Người bào chữa cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ điểm h khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: bị cáo Mùa A C (tên gọi khác: không) phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Mùa A C 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/4/2021.

2. Về xử lý vật chứng: căn cứ điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xử lý như sau:

* Tịch thu tiêu hủy các vật sau:

- 01 phong bì niêm phong vật chứng của Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh Điện Biên. Mặt trước phong bì niêm phong có dán tờ giấy in dòng chữ đánh máy: Vật chứng thu giữ của Mùa A C, sinh năm 1993, trú tại: Bản H, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên bị phòng PC04 - Công an tỉnh Điện Biên và Công an xã N, huyện Điện Biên bắt quả tang về hành vi mua bán trái phép chất ma túy vào ngày 10/4/2021 tại khu vực bản P, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Tổng khối lượng 02 cục chất bột màu trắng = 41,31 gam, đã trích tổng 01 mẫu gửi giám định = 1,56 gam. Tổng khối lượng còn lại = 39,75 gam. Tổng khối lượng 01 túi nilon chứa các viên nén màu hồng = 20 gam, đã trích 01 mẫu gửi giám định = 0,47 gam. Khối lượng còn lại = 19,53 gam. Mặt sau phong bì niêm phong tại các mép được dán kín lại có các chữ ký, họ và tên của: Lầu A Vàng, Khoàng Văn D, Lê Thanh H, Hoàng Xuân L, Lường Văn H và điểm chỉ dấu vân tay ngón trỏ phải của Mùa A C, đóng 2 dấu niêm phong của Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh Điện Biên. Toàn bộ phong bì niêm phong được dán phủ kín một lớp băng dính trắng trong suốt để bảo vệ.

- 01 phong bì niêm phong vật chứng của Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh Điện Biên. Mặt trước của phong bì niêm phong có dán tờ giấy in dòng chữ đánh máy: Vật chứng thu giữ trong quá trình khám xét chỗ ở của Mùa A C, sinh năm 1993, cư trú tại: Bản H, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Điện Biên và Công an xã N, huyện Điện Biên bắt quả tang ngày 10/4/2021 về hành vi mua bán trái phép chất ma túy tại khu vực bản P, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Tổng khối lượng 01 túi nilon chứa viên nén màu hồng = 18,63 gam, đã trích 01 mẫu gửi giám định = 0,47 gam. Tổng khối lượng còn lại = 18,16 gam. Tổng khối lượng 03 cục chất bột màu trắng = 22,99 gam, đã trích tổng 02 mẫu gửi giám định = 1,61 gam. Khối lượng còn lại = 21,38 gam. Mặt sau của phong bì niêm phong vật chứng tại các mép dán có các chữ ký, họ và tên của: Lầu A V, Khoàng Văn D, Lê Thanh H, Hoàng Xuân L và Lường Văn H và điểm chỉ dấu vân tay ngón trỏ phải của Mùa A C, đóng 2 dấu niêm phong của Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh Điện Biên. Toàn bộ phong bì niêm phong được dán phủ kín 1 lớp băng dính trắng trong để bảo vệ. (Tại bản kết luận giám định số 429/GĐ-PC09 ngày 19/4/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: 03 mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của Mùa A C gửi giám định là chất ma túy; Loại: Heroine. 02 mẫu viên nén màu hồng trích ra từ vật chứng thu giữ của Mùa A C gửi giám định là chất ma túy: Loại Methamphetamine).

- 01 chiếc cân tiểu ly làm bằng gỗ + 01 chiếc túi khoác nhỏ có dây đeo màu đen nhãn hiệu NIKE đã qua sử dụng thu giữ của Mùa A C.

- 01 chiếc cân tiểu ly làm bằng gỗ + một chiếc túi vải thổ cẩm hoa văn có dây quai đeo, đã qua sử dụng thu giữ khi khám xét chỗ ở của Mùa A C.

* Trả lại cho bị cáo Mùa A C: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, màn hình cảm ứng, điện thoại cũ đã qua sử dụng thu giữ của Mùa A C.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Điện Biên và Cục thi hành án dân sự tỉnh Điện Biên ngày 01 tháng 7 năm 2021).

3. Về án phí: căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Quyết định số 433/QĐ-UBDT, ngày 18/6/021 của Ủy ban dân tộc phê duyệt danh sách các thôn đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Mùa A C.

4. Về quyền kháng cáo: căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Mùa A C có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ