vanban.org

Bản án 86/2021/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Nghệ An Tuyên án 20/05/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 20/05/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Phan Thị L, Nguyễn Thị Ánh N, Phạm Thị X, Nguyễn Hữu T phạm tội “Đánh bạc”.

Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Nguyễn Hữu T. Thời hạn cải tạo không giam giữ của bị cáo Nguyễn Hữu T tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao Bản án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Ánh N cùng đòng phạm - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Phan Thị L, Nguyễn Thị Ánh N, Phạm Thị X, Nguyễn Hữu T phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 86/2021/HS-PT
Ngày: 20/5/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Thạch Hùng

Các Thẩm phán: Ông Ngô Sỹ Tiến

Ông Nguyễn Anh Sơn

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Viết Ngọc – Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Bùi Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 5 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 75/2021/TLPT-HS ngày 10 tháng 3 năm 2021 đối với các bị cáo Phan Thị Lựu, Nguyễn Thị Ánh Nguyệt, Phạm Thị Xinh, Nguyễn Hữu Thành do có kháng cáo của các bị cáo Phan Thị Lựu, Nguyễn Thị Ánh Nguyệt, Phạm Thị Xinh, Nguyễn Hữu Thành đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 564/2020/HS-ST ngày 30/11/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

- Các bị cáo có kháng cáo:

1. Họ và tên: Phan Thị L; tên gọi khác: Không; sinh ngày 04 tháng 12 năm 1982 tại huyện Đô L, tỉnh Nghệ An; nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: xóm 14, xã Nghi K, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phan Viết H và bà: Nguyễn Thị H; chồng: Phạm Văn H, sinh năm: 1981; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/7/2020 đến ngày 03/8/2020 được cho tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Nguyễn Thị Ánh N; tên gọi khác: Không; Sinh ngày 03 tháng 02 năm 1987 tại huyện Hương S, tỉnh Hà Tĩnh; nơi ĐKHKTT: Thôn Long Đình, xã Sơn Trung, huyện Hương S, tỉnh Hà Tĩnh; nơi ở hiện nay: Xóm 13, xã Nghi Phú, thành phố V, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Trường S và bà: Nguyễn Thị K; chồng: Trần Hồng V, sinh năm 1988 (Đã ly hôn); con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tại bản án số 230/2020/HSST ngày 05/6/2020, Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”. Bị cáo chưa chấp hành hình phạt; bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/7/2020 đến ngày 09/09/2020 được cho tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: Phạm Thị X; tên gọi khác: Không; sinh ngày 02 tháng 11 năm 1985 tại huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An; nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: khối 4, phường Hà Huy T, thành phố V, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn D và bà: Trần Thị L; chồng: Trần Đức L, sinh năm: 1981; con: Có 01 con, sinh năm 2011; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/7/2020 đến ngày 03/8/2020 được cho tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

4. Họ và tên: Nguyễn Hữu T; tên gọi khác: không; sinh ngày 23 tháng 12 năm 1990 tại huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An; nơi ĐKHKTT: Khối 2, thị trấn Quỳ H, huyện Quỳ H, tỉnh Nghệ An; nơi ở hiện nay: Khối 6, phường Hà Huy T, thành phố V, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Hữu T và bà: Trần Thị H; vợ: Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm: 1994; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo tạm giữ từ ngày 24/7/2020 đến ngày 27/7/2020 được cho tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra còn có các bị cáo Nguyễn Đình T, Võ Thế D không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị nên Toà án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[1] Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào lúc 18 giờ ngày 05/07/2020, tại trước số nhà 79 đường Nguyễn Cảnh Hoan thuộc khối 5, phường Quán Bàu, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, tổ công tác đội Cảnh sát hình sự, Công an thành phố Vinh tiến hành kiểm tra phát hiện bắt quả tang Nguyễn Thị Ánh N, sinh năm 1987, trú tại thôn Long Đình, xã Sơn Trung, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh đang giao nhận cáp ghi số lô, số đề cho Doãn Văn T, sinh năm 1993 trú tại xóm Thái Thọ, xã Nghi Thái, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An và Trần Văn Q, sinh năm 1998 trú tại xóm Thái Lộc, xã Nghi Thái, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Khi bắt cơ quan Công an thu giữ trong túi quần của Doãn Văn T 01 (một) cáp đề do Nguyễn Thị Ánh N ghi và vừa đưa cho Doãn Văn T; thu giữ trong túi quần của Trần Văn Quân 01 (một) cáp đề do Nguyễn Thị Ánh N ghi và vừa đưa cho Trần Văn Quân. Tổng số tiền trên cáp đề mà Nguyễn Thị Ánh N ghi cho Doãn Văn T là 3.450.000 đồng (Ba triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng). Tổng số tiền trên cáp đề mà Nguyễn Thị Ánh N ghi cho Trần Văn Q là 2.300.000 đồng (Hai triệu ba trăm nghìn đồng). Ngoài ra cơ quan công an thu giữ trong người Nguyễn Thị Ánh N số tiền 5.750.000 đồng (Năm triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A10 màu xanh có số IMEI 1: 357966103215233; IMEI 2: 357967103215231 trong máy lắp sim 1: 0395619229; sim 2: 0985327677.

Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra chiếc điện thoại di động thu giữ của Nguyễn Thị Ánh Nguyệt xác định từ ngày 01/7/2020 đến ngày 05/7/2020, Nguyễn Thị Ánh N nhắn tin đánh bạc bằng hình thức đánh lô đề với Phan Thị L, sinh năm 1982, trú tại xóm 14, xã Nghi Kim, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An qua số thuê bao “0347641625”. Ngày 06/7/2020, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Vinh thi hành Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Phan Thị L về hành vi “Đánh bạc”, thu giữ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu hồng, có số IMEI: 355420071119847, trong máy gắn sim số 0347641625 và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng, có số IMEI 356727080090432, trong máy gắn sim số 0975561852. Khám xét nhà ở của Phan Thị Lựu tại xóm 14, xã Nghi Kim, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An thu giữ 01 (một) thẻ ngân hàng Techcombank số 9704078839168982 mang tên Phan Thị Lựu, 01 (một) thẻ ngân hàng Vietcombank số 9704366802528542025 mang tên Phan Thị L, 01 (một) máy tính cầm tay nhãn hiệu Casino AX-120B màu đen trắng và số tiền 79.450.000 đồng (Bảy mươi chín triệu, bốn trăm năm mươi nghìn đồng). Hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh lô đề giữa Nguyễn Thị Ánh N và Phan Thị được xác định như sau:

- Ngày 01/7/2020, Nguyễn Thị Ánh N nhắn tin đánh với Phan Thị L 980 (chín trăm tám mươi) điểm số lô, mỗi điểm lô có giá 23.000 đồng (Hai mươi ba nghìn đồng) nên tổng số tiền đánh số lô là 22.540.000 đồng (Hai mươi hai triệu, năm trăm bốn mươi nghìn đồng); đánh 16.924.000 đồng (Mười sáu triệu, chín trăm hai mươi tư nghìn đồng) tiền số đề; đánh 220.000 đồng (Hai trăm hai mươi nghìn đồng) tiền số lô xiên 2; đánh 720.000 đồng (Bảy trăm hai mươi nghìn đồng) tiền số lô xiên 3; đánh 2.585.000 đồng (Hai triệu, năm trăm tám mươi lăm nghìn đồng) tiền số đề ba càng. Tổng số tiền đánh lô đề là 42.989.000 đồng (Bốn mươi hai triệu, chín trăm tám mươi chín nghìn đồng). Sau khi có kết quả Xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng ngày 01/7/2020, Nguyễn Thị Ánh N trúng thưởng 214 (hai trăm mười bốn) điểm số lô gồm các số lô “74, 88, 55, 55, 00, 49, 21, 02, 97, 00, 55, 55, 88, 02” mỗi số trúng 01 (một) điểm, số lô “02” trúng 02 (hai) điểm, số lô “26” trúng 03 (ba) điểm, các số lô “26, 37, 35, 53, 49” mỗi số trúng 05 (năm) điểm, các số lô “02, 68, 86” mỗi số trúng 10 (mười) điểm, các số lô “86, 61” mỗi số trúng 20 (hai mươi) điểm, các số lô “00, 55, 55, 88” mỗi số trúng 25 (hai mươi lăm) điểm, 01 (một) điểm lô trúng thưởng được 80.000 đồng (Tám mươi nghìn đồng) nên tổng số tiền trúng thưởng số lô là 17.120.000 đồng (Mười bảy triệu, một trăm hai mươi nghìn đồng); Nguyễn Thị Ánh N trúng số đề “35” với 12.000 đồng (Mười hai nghìn đồng), quy định trúng thưởng thì được tính 1 ăn 70 lần nên tổng số tiền trúng thưởng số đề là 840.000 đồng (Tám trăm bốn mươi nghìn đồng). Như vậy, tổng số tiền đánh bạc giữa Nguyễn Thị Ánh N và Phan Thị L vào ngày 01/7/2020 được xác định là 60.949.000 đồng (Sáu mươi triệu, chín trăm bốn mươi chín nghìn đồng).

- Ngày 02/7/2020, Nguyễn Thị Ánh N nhắn tin đánh với Phan Thị L 815 (tám trăm mười lăm) điểm số lô, mỗi điểm lô có giá 23.000 đồng (Hai mươi ba nghìn đồng) nên tổng số tiền đánh số lô là 18.745.000 đồng (Mười tám triệu, bảy trăm bốn mươi lăm nghìn đồng); đánh 27.748.000 đồng (Hai mươi bảy triệu, bảy trăm bốn mươi tám nghìn đồng) tiền số đề; đánh 40.000 đồng (Bốn mươi nghìn đồng) tiền số lô xiên 2; đánh 680.000 đồng (Sáu trăm tám mươi nghìn đồng) tiền số lô xiên 3; đánh 1.780.000 đồng (Một triệu, bảy trăm tám mươi nghìn đồng) tiền số đề ba càng. Tổng số tiền đánh lô đề là 48.993.000 đồng (Bốn mươi tám triệu, chín trăm chín mươi ba nghìn đồng). Sau khi có kết quả Xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng ngày 02/7/2020, Nguyễn Thị Ánh Nguyệt trúng thưởng 112 (một trăm mười hai) điểm số lô gồm các số lô “48, 29, 51, 51, 27, 22, 24, 79, 22, 53, 35, 76, 56” mỗi số trúng 01 (một) điểm, các số lô “22, 35” mỗi số trúng 02 (hai) điểm, số lô “86” trúng 05 (năm) điểm, số lô “53” trúng 10 (mười) điểm, các số lô “22, 35” mỗi số trúng 25 (hai mươi lăm) điểm, số lô “22” trúng 30 (ba mươi) điểm, 01 (một) điểm lô trúng thưởng được 80.000 đồng (Tám mươi nghìn đồng) nên tổng số tiền trúng thưởng số lô là 8.960.000 đồng (Tám triệu, chín trăm sáu mươi nghìn đồng); Nguyễn Thị Ánh N trúng số đề “29” với số tiền 8.000 đồng (Tám nghìn đồng), quy định trúng thưởng thì được tính 1 ăn 70 lần nên tổng số tiền trúng thưởng số đề là 560.000 đồng (Năm trăm sáu mươi nghìn đồng). Như vậy, tổng số tiền đánh bạc giữa Nguyễn Thị Ánh N và Phan Thị L vào ngày 02/7/2020 được xác định là 58.513.000 đồng (Năm mươi tám triệu, năm trăm mười ba nghìn đồng).

- Ngày 03/7/2020, Nguyễn Thị Ánh N nhắn tin đánh với Phan Thị L 542 (năm trăm bốn hai) điểm số lô, mỗi điểm lô có giá 23.000 đồng (Hai mươi ba nghìn đồng) nên tổng số tiền đánh số lô là 12.466.000 đồng (Mười hai triệu, bốn trăm sáu mươi sáu nghìn đồng); đánh 21.271.000 đồng (Hai mươi mốt triệu, hai trăm bảy mươi mốt nghìn đồng) tiền số đề; đánh 700.000 đồng (Bảy trăm nghìn đồng) tiền số lô xiên 2; đánh 290.000 đồng (Hai trăm chín mươi nghìn đồng) tiền số lô xiên 3; đánh 63.000 đồng (Sáu ba nghìn đồng) tiền số đề ba càng. Tổng số tiền đánh lô đề là 34.790.000 đồng (Ba mươi tư triệu, bảy trăm chín mươi nghìn đồng). Sau khi có kết quả Xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng ngày 03/7/2020, Nguyễn Thị Ánh N trúng thưởng 135 (một trăm ba lăm) điểm số lô gồm các số lô “82, 58, 78, 49, 42, 17, 29, 11, 78, 49, 27, 27, 06, 70, 42” mỗi số trúng 01 (một) điểm, các số lô “19, 29, 19” mỗi số trúng 10 (mười) điểm, số lô “29” trúng 40 (bốn mươi) điểm, số lô “98” trúng 50 (năm mươi) điểm, 01 (một) điểm lô trúng thưởng được 80.000 đồng (Tám mươi nghìn đồng) nên tổng số tiền trúng thưởng số lô là 10.800.000 đồng (Mười triệu, tám trăm nghìn đồng); Nguyễn Thị Ánh Nguyệt trúng số đề “27” với số tiền 26.000 đồng (Hai mươi sáu nghìn đồng), quy định trúng thưởng thì được tính 1 ăn 70 lần nên tổng số tiền trúng thưởng số đề là 1.820.000 đồng (Một triệu, tám trăm hai mươi nghìn đồng); Nguyễn Thị Ánh Nguyệt trúng số lô xiên 3 “29, 98, 84” với số tiền 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng), quy định 01 điểm bằng 10.000 đồng (Mười nghìn đồng) trúng thưởng thì tính 01 điểm được ăn 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng) nên tổng số tiền trúng thưởng số lô xiên 3 là 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng). Như vậy, tổng số tiền đánh bạc giữa Nguyễn Thị Ánh N và Phan Thị L vào ngày 03/7/2020 được xác định là 51.410.000 đồng (Năm mươi mốt triệu, bốn trăm mười nghìn đồng).

- Ngày 04/7/2020, Nguyễn Thị Ánh N nhắn tin đánh với Phan Thị L 484 (bốn trăm tám tư) điểm số lô, mỗi điểm lô có giá 23.000 đồng (Hai mươi ba nghìn đồng) nên tổng số tiền đánh số lô là 11.132.000 đồng (Mười một triệu, một trăm ba hai nghìn đồng); đánh 21.056.000 đồng (Hai mươi mốt triệu, không trăm năm mươi sáu nghìn đồng) tiền số đề; đánh 130.000 đồng (Một trăm ba mươi nghìn đồng) tiền số lô xiên 2; đánh 1.210.000 đồng (Một triệu, hai trăm mười nghìn đồng) tiền số lô xiên 3; đánh 240.000 đồng (Hai trăm bốn mươi nghìn đồng) tiền số đề ba càng. Tổng số tiền đánh lô đề là 33.768.000 đồng (Ba mươi ba triệu, bảy trăm sáu tám nghìn đồng). Sau khi có kết quả Xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng ngày 04/7/2020, Nguyễn Thị Ánh Nguyệt trúng thưởng 123 (một trăm hai ba) điểm số lô gồm các số lô “11, 55, 75, 75, 54, 99, 99, 33, 40, 40, 07, 70, 79” mỗi số trúng 01 (một) điểm, các số lô “85, 87, 95, 33” mỗi số trúng 05 (năm) điểm, các số lô “89, 95” mỗi số trúng 10 (mười) điểm, số lô “79” trúng 20 (hai mươi) điểm, số lô “75” trúng 50 (năm mươi) điểm, 01 (một) điểm lô trúng thưởng được 80.000 đồng (Tám mươi nghìn đồng) nên tổng số tiền trúng thưởng số lô là 9.840.000 đồng (Chín triệu, tám trăm bốn mươi nghìn đồng); Nguyễn Thị Ánh Nguyệt trúng số đề “75” với số tiền 48.000 đồng (Bốn mươi tám nghìn đồng), quy định trúng thưởng thì được tính 1 ăn 70 lần nên tổng số tiền trúng thưởng số đề là 3.360.000 đồng (Ba triệu, ba trăm sáu mươi nghìn đồng); Nguyễn Thị Ánh Nguyệt trúng số lô xiên 2 “87, 85” với số tiền 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng), quy định 01 điểm bằng 10.000 đồng (Mười nghìn đồng) trúng thưởng thì tính 01 điểm được ăn 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng) nên tổng số tiền trúng thưởng số lô xiên 2 là 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng). Như vậy, tổng số tiền đánh bạc giữa Nguyễn Thị Ánh N và Phan Thị L vào ngày 04/7/2020 được xác định là 47.468.000 đồng (Bốn mươi bảy triệu, bốn trăm sáu tám nghìn đồng).

- Ngày 05/7/2020, Nguyễn Thị Ánh N nhắn tin đánh với Phan Thị L 566 (năm trăm sáu sáu) điểm số lô, mỗi điểm lô có giá 23.000 đồng (Hai mươi ba nghìn đồng) nên tổng số tiền đánh số lô là 13.018.000 đồng (Mười ba triệu, không trăm sáu mươi tám nghìn đồng); đánh 25.936.000 đồng (Hai mươi lăm triệu, chín trăm ba mươi sáu nghìn đồng) tiền số đề; đánh 1.200.000 đồng (Một triệu, hai trăm nghìn đồng) tiền số lô xiên 2; đánh 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền số lô xiên 3; đánh 175.000 đồng (Một trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) tiền số đề ba càng. Tổng số tiền đánh lô đề là 40.529.000 đồng (Bốn mươi triệu, năm trăm hai mươi chín nghìn đồng). Sau đó, Nguyễn Thị Ánh Nguyệt bị Cơ quan CSĐT Công an thành phố Vinh bắt giữ trước thời điểm có kết quả Xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng ngày 05/7/2020. Như vậy, tổng số tiền đánh bạc giữa Nguyễn Thị Ánh N và Phan Thị L vào ngày 05/7/2020 được xác định là 40.529.000 đồng (Bốn mươi triệu, năm trăm hai mươi chín nghìn đồng).

Trong đó, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Vinh xác định ngày 05/7/2020, Nguyễn Thị Ánh Nguyệt sử dụng tài khoản Zalo có tên “Miu” đăng ký số thuê bao “0985327677” để đánh bạc bằng hình thức đánh lô đề với Nguyễn Đình Trường, sinh năm 1990, trú tại xóm 13, xã Nghi Phú, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An qua tài khoản Zalo có tên “Foodchicken” đăng ký số thuê bao “0911413433”. Ngày 24/7/2020, sau khi biết tin Nguyễn Thị Ánh N bị bắt, Nguyễn Đình T đã đến Cơ quan CSĐT Công an thành phố Vinh đầu thú về hành vi phạm tội của mình, đồng thời giao nộp 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus, màu vàng có số IMEI: 354393069315530, trong máy gắn sim số “0911413433” và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, màu đen có số IMEI: 355763107979076, trong máy gắn sim số “0979220695”. Hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh lô đề giữa Nguyễn Đình T và Nguyễn Thị Ánh N được xác định như sau: Ngày 05/7/2020, Nguyễn Đình T nhắn tin đánh với Nguyễn Thị Ánh N 370 (ba trăm bảy mươi) điểm số lô, mỗi điểm lô có giá 23.000 đồng (Hai mươi ba nghìn đồng) nên tổng số tiền đánh số lô là 8.510.000 đồng (Tám triệu, năm trăm mười nghìn đồng); đánh 682.000 đồng (Sáu trăm tám mươi hai nghìn đồng) tiền số đề; đánh 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền số lô xiên 2; đánh 45.000 đồng (Bốn mươi lăm nghìn đồng) tiền số đề ba càng. Tổng số tiền đánh lô đề là 9.437.000 đồng (Chín triệu, bốn trăm ba mươi bảy nghìn đồng). (Số lô, đề Trường đánh với Nguyệt đã được Nguyệt tập hợp lại chuyển cho Phan Thị Lựu vào ngày 05/7/2020. Do đó tang số đánh bạc của Nguyệt với Lựu vào ngày 05/7/2020 bao gồm cả tang số Nguyệt đánh với Trường). Sau khi có kết quả Xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng ngày 05/7/2020, Nguyễn Đình Trường trúng thưởng số lô “77” với 40 (bốn mươi) điểm, 01 (một) điểm lô trúng thưởng được 80.000 đồng (Tám mươi nghìn đồng) nên tổng số tiền trúng thưởng số lô là 3.200.000 đồng (Ba triệu, hai trăm nghìn đồng). Tuy nhiên, Nguyễn Thị Ánh N bị Cơ quan CSĐT Công an thành phố Vinh bắt giữ trước thời điểm có kết quả Xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng ngày 05/7/2020 nên tổng số tiền đánh bạc giữa Nguyễn Đình Trường và Nguyễn Thị Ánh N vào ngày 05/7/2020 được xác định là 9.437.000 đồng (Chín triệu, bốn trăm ba mươi bảy nghìn đồng).

Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu hồng, có số IMEI: 355420071119847, trong máy gắn sim số “0347641625” thu giữ của Phan Thị L xác định ngày 05/7/2020, Phan Thị Lựu đánh bạc bằng hình thức đánh lô đề với Phạm Thị X, sinh năm 1985, trú tại khối 4, phường Hà Huy Tập, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An qua số thuê bao “0989901484”. Ngày 06/7/2020, sau khi biết tin Phan Thị Lựu bị bắt, Phạm Thị Xinh đã đến Cơ quan CSĐT Công an thành phố Vinh xin đầu thú về hành vi phạm tội của mình, đồng thời giao nộp 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen có số Seri 1: 354195105084552, số Seri 2: 354195105584551, trong máy gắn sim số “0928349398” và số tiền 1.160.000 đồng (Một triệu, một trăm sáu mươi nghìn đồng). Hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh lô đề giữa Phạm Thị Xinh và Phan Thị L được xác định như sau: Ngày 05/7/2020, Phạm Thị Xinh nhắn tin đánh với Phan Thị L 1669 (một nghìn sáu trăm sáu chín) điểm số lô, mỗi điểm lô có giá 23.000 đồng (Hai mươi ba nghìn đồng) nên tổng số tiền đánh số lô là 38.387.000 đồng (Ba mươi tám triệu, ba trăm tám mươi bảy nghìn đồng); đánh 19.086.000 đồng (Mười chín triệu, không trăm tám mươi sáu nghìn đồng) tiền số đề; đánh 30.000 đồng (Ba mươi nghìn đồng) tiền số lô xiên 2; đánh 210.000 đồng (Hai trăm mười nghìn đồng) tiền số lô xiên 3; đánh 270.000 đồng (Hai trăm bảy mươi nghìn đồng) tiền số đề ba càng. Tổng số tiền đánh lô đề là 57.983.000 đồng (Năm mươi bảy triệu, chín trăm tám mươi ba nghìn đồng). Sau khi có kết quả Xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng ngày 05/7/2020, Phạm Thị Xinh trúng thưởng 785 (bảy trăm tám mươi lăm) điểm số lô gồm số lô “01” trúng 05 (năm) điểm, các số lô “01, 94” mỗi số trúng 15 (mười lăm) điểm, các số lô “01, 50” mỗi số trúng 25 (hai lăm) điểm, các số lô “67, 81” mỗi số trúng 50 (năm mươi) điểm, số lô “50” trúng 600 (sáu trăm) điểm, 01 (một) điểm lô trúng thưởng được 80.000 đồng (Tám mươi nghìn đồng) nên tổng số tiền trúng thưởng số lô là 62.800.000 đồng (Sáu mươi hai triệu, tám trăm nghìn đồng); Phạm Thị X trúng thưởng số đề “70” với số tiền 18.000 đồng (Mười tám nghìn đồng), quy định trúng thưởng thì được tính 1 ăn 70 lần nên tổng số tiền trúng thưởng số đề là 1.260.000 đồng (Một triệu, hai trăm sáu mươi nghìn đồng). Như vậy, tổng số tiền đánh bạc giữa Phạm Thị X và Phan Thị L vào ngày 05/7/2020 được xác định là 122.043.000 đồng (Một trăm hai mươi hai triệu, không trăm bốn mươi ba nghìn đồng).

Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen có số Seri 1: 354195105084552, số Seri 2: 354195105584551, trong máy gắn sim số “0928349398” thu giữ của Phạm Thị X xác định ngày 06/7/2020, Phạm Thị X nhắn tin đánh bạc bằng hình thức đánh lô đề với Võ Thế Diệu, sinh năm 1979, trú tại khối 6, phường Quán Bàu, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An qua số thuê bao “0826886171”. Ngày 06/7/2020 Cơ quan CSĐT Công an thành phố Vinh thi hành Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Võ Thế D về hành vi “Đánh bạc”, thu giữ 03 (ba) điện thoại di đồng gồm: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng có số IMEI: 356722089574726, trong máy gắn SIM số: “0826886171”; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu hồng có số IMEI: 358566076115573, trong máy gắn SIM số: “0362805211” và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng có số IMEI: 353041096466112, trong máy gắn SIM số: “0912267547”. Hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh lô đề giữa Phạm Thị X và Võ Thế D được xác định như sau: Ngày 06/7/2020, Phạm Thị X nhắn tin đánh với Võ Thế Diệu 354 (ba trăm năm tư) điểm số lô, mỗi điểm lô có giá 23.000 đồng (Hai mươi ba nghìn đồng) nên tổng số tiền đánh số lô là 8.142.000 đồng (Tám triệu, một trăm bốn mươi hai nghìn đồng); đánh 20.568.000 đồng (Hai mươi triệu, năm trăm sáu mươi tám nghìn đồng) tiền số đề; đánh 30.000 đồng (Ba mươi nghìn đồng) tiền số lô xiên 2; đánh 10.000 đồng (Mười nghìn đồng) tiền số đề ba càng. Tổng số tiền đánh lô đề là 28.750.000 đồng (Hai mươi tám triệu, bảy trăm năm mươi nghìn đồng). Sau đó, Phạm Thị X đã đến Cơ quan CSĐT Công an thành phố Vinh xin đầu thú về hành vi phạm tội của mình trước thời điểm có kết quả Xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng ngày 06/7/2020. Như vậy, tổng số tiền đánh bạc giữa Phạm Thị X và Võ Thế D vào ngày 06/7/2020 được xác định là 28.750.000 đồng (Hai mươi tám triệu, bảy trăm năm mươi nghìn đồng).

Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, màu đen có số IMEI: 355763107979076, trong máy gắn sim số “0979220695” thu giữ của Nguyễn Đình T xác định vào các ngày 09/7/2020 và ngày 10/7/2020, Nguyễn Đình T đánh bạc bằng hình thức đánh lô đề với Nguyễn Hữu Thành, sinh năm 1990, trú tại khối 2, thị trấn Quỳ Hợp, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An qua số thuê bao “0379622928”. Ngày 24/7/2020, Nguyễn Hữu Thành đã đến Cơ quan CSĐT Công an thành phố Vinh xin đầu thú về hành vi phạm tội của mình, đồng thời giao nộp 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 màu vàng có số IMEI: 355339085476482, trong máy gắn sim số “0379622928”. Hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh lô đề giữa Nguyễn Hữu T và Nguyễn Đình T được xác định như sau:

- Ngày 09/7/2020, Nguyễn Hữu T đánh các số lô “10, 85” mỗi con 100 (một trăm) điểm, 01 điểm lô có giá 23.000 đồng (Hai mươi ba nghìn đồng) nên tổng số tiền đánh số lô là 4.600.000 đồng (Bốn triệu, sáu trăm nghìn đồng). Sau khi có kết quả Xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng ngày 09/7/2020, Nguyễn Hữu Thành trúng thưởng số lô “10” với 100 (một trăm) điểm, 01 (một) điểm lô trúng thưởng được 80.000 đồng (Tám mươi nghìn đồng) nên tổng số tiền trúng thưởng số lô là 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng). Như vậy, tổng số tiền đánh bạc giữa Nguyễn Hữu T và Nguyễn Đình T vào ngày 09/7/2020 được xác định là 12.600.000 đồng (Mười hai triệu sáu trăm nghìn đồng).

- Ngày 10/7/2020, Nguyễn Hữu T đánh các số lô “35, 95” mỗi con 100 (một trăm) điểm, 01 điểm lô có giá 23.000 đồng (Hai mươi ba nghìn đồng) nên tổng số tiền đánh số lô là 4.600.000 đồng (Bốn triệu, sáu trăm nghìn đồng). Sau khi có kết quả Xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng ngày 10/7/2020, Nguyễn Hữu T trúng thưởng số lô “95” với 100 (một trăm) điểm, 01 (một) điểm lô trúng thưởng được 80.000 đồng (Tám mươi nghìn đồng) nên tổng số tiền trúng thưởng số lô là 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng). Như vậy, tổng số tiền đánh bạc giữa Nguyễn Hữu T và Nguyễn Đình T vào ngày 10/7/2020 được xác định là 12.600.000 đồng (Mười hai triệu sáu trăm nghìn đồng).

Hình thức, cách thức đánh bạc bằng hình thức đánh lô đề và số tiền thắng thua giữa các bị cáo được xác định như sau:

- Đánh số đề: Người đánh tự chọn 1 hoặc nhiều cặp số tự nhiên và đánh với một số tiền nhất định. Khi có kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc, nếu một trong các cặp số người đánh trùng với 2 số cuối của giải đặc biệt thì gọi là trúng số đề. Nếu trúng thì được tính 1 ăn 70 lần (tức đánh 100.000 đồng trúng thưởng sẽ được nhận 7.000.000 đồng).

- Đánh số lô: Người đánh chọn lấy 1 hoặc nhiều cặp số tự nhiên và đánh với một số điểm nhất định, theo như Nguyễn Thị Ánh N, Phan Thị L, Phạm Thị X, Võ Thế D, Nguyễn Đình T và Nguyễn Hữu Th quy định 01 điểm lô có giá 23.000 đồng (Hai mươi ba nghìn đồng). Khi có kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc, nếu một trong các cặp số người đánh trùng với 2 số cuối của 27 giải thưởng thì gọi là trúng số lô. Cách đánh này được thống nhất nếu trúng 01 điểm được ăn 80.000 đồng (Tám mươi nghìn đồng). Nếu trong 27 giải thưởng có nhiều số trùng với một cặp số mà người đánh đã chọn đánh thì quy định trùng số nào được tính tiền thưởng số đó.

- Đánh số lô xiên hai: Người đánh chọn lấy 02 cặp số tự nhiên và đánh với một số điểm nhất định, 01 điểm bằng 10.000 đồng (Mười nghìn đồng). Khi có kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc, nếu 02 cặp số người đánh đã chọn đánh trùng với 2 số cuối của 27 giải thưởng thì gọi là trúng lô xiên hai. Cách đánh này được thống nhất nếu trúng 01 điểm được ăn 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng). Khi có kết quả nếu chỉ trùng với một cặp số mà người đánh đã chọn đánh thì không được tính là trúng thưởng lô xiên hai.

- Đánh số lô xiên ba: Người đánh chọn lấy 03 cặp số tự nhiên và đánh với một số điểm nhất định, 01 điểm bằng 10.000 đồng (Mười nghìn đồng). Khi có kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc, nếu 03 cặp số người đánh đã chọn đánh trùng với 2 số cuối của 27 giải thưởng thì gọi là trúng lô xiên ba. Cách đánh này được thống nhất nếu trúng 01 điểm được ăn 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng). Khi có kết quả nếu chỉ trùng với một cặp số hoặc hai cặp số mà người đánh đã chọn đánh thì không được tính là trúng thưởng lô xiên ba.

- Đánh số đề ba càng: Người đánh cá cược ba số cuối cùng của giải đặc biệt xổ số kiến thiết miền Bắc với một số tiền nhất định. Khi có kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc, nếu đánh trùng với ba số cuối của giải đặc biệt thì gọi là trúng ba càng. Nếu trúng thì được tính 1 ăn 400 lần (tức đánh 10.000 đồng trúng thưởng sẽ được nhận 4.000.000 đồng).

[2] Với nội dung trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 564/2020/HS-ST ngày 30 tháng 11 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An quyết định: Tuyên bố các bị cáo Phan Thị L, Nguyễn Thị Ánh N, Phạm Thị X, Nguyễn Hữu T phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt Phan Thị L 39 (ba mươi chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ đi những ngày bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/7/2020 đến ngày 03/8/2020.

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 56 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Thị Ánh N 39 (ba mươi chín) tháng tù. Tổng hợp 06 (sáu) tháng tù được quy đổi từ 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ tại Bản án số 230/2020/HSST ngày 05/6/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 45 (bốn mươi lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ đi những ngày bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/7/2020 đến ngày 09/9/2020 và được trừ đi những ngày bị tạm giữ tại Bản án số 230/2020/HSST ngày 05/6/2020 từ ngày 17/12/2019 đến ngày 20/12/2019.

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt Phạm Thị X 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ đi những ngày bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/7/2020 đến ngày 03/8/2020.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Hữu T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ đi những ngày bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/7/2020 đến ngày 27/7/2020.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên xử phạt đối với các bị cáo Nguyễn Đình T, Võ thế D và xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo cho các bị cáo.

[3] Ngày 02/12/2020, bị cáo Nguyễn Hữu Th làm đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cải tạo tại địa phương; Ngày 04/12/2020, bị cáo Phan Thị L làm đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được cải tạo tại địa phương; Ngày 07/12/2020 bị cáo Phạm Thị X làm đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được cải tạo tại địa phương; Ngày 07/12/2020 bị cáo Nguyễn Thị Ánh N làm đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được cải tạo tại địa phương.

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Phan Thị L, Nguyễn Thị Ánh N, Phạm Thị X, Nguyễn Hữu T giữ nguyên nội dung kháng cáo.

[4] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu:

Tính hợp pháp của kháng cáo: Đơn kháng cáo của các bị cáo Phan Thị L, Nguyễn Thị Ánh N, Phạm Thị X, Nguyễn Hữu T làm trong thời hạn quy định, hợp lệ được xem xét chấp nhận.

Sau khi phân tích toàn bộ nội dung vụ án, xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo kháng cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và các tình tiết mới tại phiên tòa phúc thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c, e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:

Chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Phan Thị L, Nguyễn Thị Ánh N, Phạm Thị X; sửa Bản án sơ thẩm giảm hình phạt cho bị cáo. Không chấp nhận cho các bị cáo biện pháp chấp hành hình phạt cải tạo tại địa phương.

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu T sửa bản án sơ thẩm, chuyển từ hình phạt tù sang hình phạt tù cho hưởng án treo. Không chấp nhận giảm mức án cho bị cáo.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt Phan Thị L từ 25 đến 27 tháng tù về tội “Đánh bạc”.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 56 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Thị Ánh N từ 25 đến 27 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Đề nghị tổng hợp 06 (sáu) tháng tù được quy đổi từ 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ tại Bản án số 230/2020/HSST ngày 05/6/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án từ 31 đến 33 tháng tù.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt Phạm Thị X từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Đánh bạc”.

Cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T 6 tháng tù. Cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng. Giao bị cáo Nguyễn Hữu Thành cho Ủy ban nhân dân phường Hà Huy Tập, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường Hà Huy Tập, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

[5] Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo Phan Thị L, Nguyễn Thị Ánh N, Phạm Thị X, Nguyễn Hữu T không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được giảm nhẹ hình phạt hơn mức đại diện Viện kiểm sát đề nghị và cho các bị cáo hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ.

Các bị cáo Phan Thị L, Nguyễn Thị Ánh N, Phạm Thị X nói lời sau cùng: Các bị cáo rất ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xem xét cho các bị cáo được giảm nhẹ hình phạt để bị cáo đi cải tạo sớm trở về với gia đình và xã hội.

Bị cáo Nguyễn Hữu T nói lời sau cùng: Bị cáo rất ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xem xét cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt và hưởng hình phạt cải tạo tại địa phương để bị cáo có cơ hội sữa chữa lỗi lầm của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Kháng cáo của các bị cáo Phan Thị L, Nguyễn Thị Ánh N, Phạm Thị X, Nguyễn Hữu T trong thời hạn luật định, nội dung, hình thức đơn kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Xét tính chất vụ án: Tại phíên tòa phúc thẩm, các bị cáo Phan Thị L; Nguyễn Thị Ánh N, Phạm Thị X, Nguyễn Hữu T thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm sơ thẩm, cụ thể:

Vào lúc 18 giờ ngày 05/07/2020, tại trước số nhà 79 đường Nguyễn Cảnh Hoan thuộc khối 5, phường Quán Bàu, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, tổ công tác đội Cảnh sát hình sự, Công an thành phố Vinh tiến hành kiểm tra phát hiện bắt quả tang Nguyễn Thị Ánh N đang giao nhận cáp ghi số lô, số đề cho Doãn Văn T số tiền là 3.450.000 đồng (Ba triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng) và Trần Văn Q là 2.300.000 đồng (Hai triệu ba trăm nghìn đồng).

Cơ quan điều tra tiến hành điều tra làm rõ từ ngày 01/7/2020 đến ngày 05/7/2020, Nguyễn Thị Ánh N nhắn tin đánh bạc bằng hình thức đánh lô đề với Phan Thị Lựu;

Ngày 01/7/2020, Nguyễn Thị Ánh Nguyệt nhắn tin đánh với Phan Thị L tổng số tiền đánh bạc giữa Nguyễn Thị Ánh N và Phan Thị L vào ngày 01/7/2020 được xác định là 60.949.000 đồng (Sáu mươi triệu, chín trăm bốn mươi chín nghìn đồng).

Ngày 02/7/2020, Nguyễn Thị Ánh Nguyệt nhắn tin đánh với Phan Thị Ltổng số tiền đánh bạc giữa Nguyễn Thị Ánh N và Phan Thị L vào ngày 02/7/2020 được xác định là 58.513.000 đồng (Năm mươi tám triệu, năm trăm mười ba nghìn đồng).

Ngày 03/7/2020, Nguyễn Thị Ánh N nhắn tin đánh với Phan Thị L tổng số tiền đánh bạc giữa Nguyễn Thị Ánh N và Phan Thị L vào ngày 03/7/2020 được xác định là 51.410.000 đồng (Năm mươi mốt triệu, bốn trăm mười nghìn đồng).

Ngày 04/7/2020, Nguyễn Thị Ánh N nhắn tin đánh với Phan Thị L tổng số tiền đánh bạc giữa Nguyễn Thị Ánh N và Phan Thị L vào ngày 04/7/2020 được xác định là 47.468.000 đồng (Bốn mươi bảy triệu, bốn trăm sáu tám nghìn đồng).

Ngày 05/7/2020, Nguyễn Thị Ánh N nhắn tin đánh với Phan Thị L tổng số tiền đánh bạc giữa Nguyễn Thị Ánh N và Phan Thị L vào ngày 05/7/2020 được xác định là 40.529.000 đồng (Bốn mươi triệu, năm trăm hai mươi chín nghìn đồng).

Ngày 05/7/2020, Nguyễn Thị Ánh N sử dụng tài khoản Zalo để đánh bạc bằng hình thức đánh lô đề với Nguyễn Đình T, tổng số tiền đánh bạc giữa Nguyễn Đình Trường và Nguyễn Thị Ánh Nguyệt vào ngày 05/7/2020 được xác định là 9.437.000 đồng (Chín triệu, bốn trăm ba mươi bảy nghìn đồng).

Ngày 05/7/2020, Phan Thị L đánh bạc bằng hình thức đánh lô đề với Phạm Thị X, tổng số tiền đánh bạc giữa Phạm Thị Xinh và Phan Thị L vào ngày 05/7/2020 được xác định là 122.043.000 đồng (Một trăm hai mươi hai triệu, không trăm bốn mươi ba nghìn đồng).

Ngày 06/7/2020, Phạm Thị X nhắn tin đánh bạc bằng hình thức đánh lô đề với Võ Thế D, tổng số tiền đánh bạc giữa Phạm Thị X và Võ Thế D vào ngày 06/7/2020 được xác định là 28.750.000 đồng (Hai mươi tám triệu, bảy trăm năm mươi nghìn đồng).

Các ngày 09/7/2020 và ngày 10/7/2020, Nguyễn Đình T đánh bạc bằng hình thức đánh lô đề với Nguyễn Hữu Thành

Ngày 09/7/2020, tổng số tiền đánh bạc giữa Nguyễn Hữu T và Nguyễn Đình T vào ngày 09/7/2020 được xác định là 12.600.000 đồng (Mười hai triệu sáu trăm nghìn đồng).

Tổng số tiền đánh bạc giữa Nguyễn Hữu T và Nguyễn Đình T vào ngày 10/7/2020 được xác định là 12.600.000 đồng (Mười hai triệu sáu trăm nghìn đồng).

Quá trình điều tra, xét xử sơ thẩm chứng minh được trong khoảng thời gian từ ngày 01/7/2020 đến 10/7/2020 Nguyễn Thị Ánh N đã nhiều lần đánh bạc bằng hình thức đánh số lô số đề cùng Phan Thị L với số tiền 259.169.000 đồng, đánh bạc với Nguyễn Đình T với số tiền 9.437.000 đồng (cùng ngày 05/7/2020, N đánh bạc với T rồi chuyển cho L); Phan Thị L đánh bạc với Phạm Thị X với số tiền 122.093.000 đồng; Phạm Thị X đánh bạc với Võ Thế D với số tiền 28.750.000 đồng; Nguyễn Đình T đánh bạc với Nguyễn Hữu T 02 lần với số tiền 25.200.000 đồng. Với nội dung trên, Toà án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Phan Thị L, Nguyễn Thị Ánh N, Phạm Thị X về tội “Đánh bạc” theo khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự; bị cáo Nguyễn Hữu T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét nội dung kháng cáo của các bị cáo, HĐXX đồng xét xử thấy rằng:

Hành vi phạm tội của các bị cáo Phan Thị L, Nguyễn Thị Ánh N, Phạm Thị X, Nguyễn Hữu T đã xâm phạm các quy định của nhà nước về trật tự công cộng, an toàn xã hội, các bị cáo đánh bạc nhằm kiếm tiền thu lợi bất chính. Hành vi của bị cáo đã làm mất an ninh, trật tự tại địa phương nên Tòa án sơ thẩm xử phạt các bị cáo tù là có căn cứ.

Đối với nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Phan Thị L, Nguyễn Thị Ánh N, Phạm Thị X, HĐXX thấy:

Bị cáo Phan Thị L là người nhận bảng lô đề từ các bị cáo N và X nộp lại cho chủ đề hưởng lợi hoa hồng, thực hiện nhiều hành vi với với tổng số tiền đánh bạc phải chịu trách nhiệm hình sự là 381.212.000 đồng. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ mới, vào ngày 20/01/2020, Phan Thị L đã cung cấp thông tin cho Đoàn đặc nhiệm phòng chống tội phạm ma tuý số 2, Bộ tư lệnh Cảnh sát biển bắt giữ đối tượng Nguyễn Văn T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy; Bị cáo đã tham gia cùng nhóm kết nối yêu thương Nghệ An để hỗ trợ bà con vùng lũ tại Hà Tĩnh năm 2020 và được UBND xã Nghi Phú xác nhận. Đây là các tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại điểm t khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, cũng thể hiện bị cáo biết ăn năn hối cải lập công chuộc tội. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo như đề nghị của đại diện VKS tỉnh Nghệ An tại phiên toà là có cơ sở.

Bị cáo Nguyễn Thị Ánh N là người ghi trực tiếp ghi số lô đề sau đó tập hợp chuyển lại cho bị cáo Phan Thị Lựu để hưởng hoa hồng, bị cáo thực hiện nhiều hành vi với tổng số tiền phải chịu trách nhiệm hình sự là 264.919.000 đồng. Xét trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa sơ, phúc thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã có công giúp đỡ cơ quan có trách nhiệm trong việc đấu tranh bắt giữ tội phạm; gia đình bị cáo có ông bà có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng huân huy chương kháng chiến; Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo xuất trình tình tiết giảm nhẹ mới là: Hội nạn nhân chất độc da cam huyện Hương sơn xác nhận ngày 05/3/2021 về ủng hộ khẩu trang phòng chống Covid-19, bị cáo đã li hôn chồng và hiện đang nuôi 02 con còn nhỏ, đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Xét thấy mức án Tòa án sơ thẩm áp dụng cho bị cáo là có phần nghiêm khắc, do đó xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là có căn cứ.

Bị cáo Phạm Thị X là người trực tiếp ghi số lô, đề sau đó chuyển cho bị cáo Phan Thị Lựu hưởng hoa hồng, bị cáo thực hiện 2 hành vi với tang số 150.793.000 đồng. Xét trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; chưa có tiền án, tiền sự; sau khi phạm tội đã đi đầu thú. Theo xác nhận của UBND xã Diễn Tân, Diễn châu thì vào ngày 20/2/2021 bị cáo có công cứu cháu bé khỏi đuối nước tại chân cầu Phú Hậu thuộc xã Diễn Tân, bị cáo hiện nay đang mang thai đây là các tình tiết được quy định tại điểm s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Mức án Tòa án sơ thẩm áp dụng cho bị cáo có phần nghiêm khắc, do đó xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là có căn cứ.

Xét các bị cáo Phan Thị L, Nguyễn Thị Ánh N, Phạm Thị X có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự, sau khi xét xử sơ thẩm có thêm các tình tiết giảm nhẹ mới, có căn cứ quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng theo quy định tại điều 54 Bộ luật hình sự, phù hợp tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo. Do đó có căn cứ chấp nhận kháng cáo của các bị cáo về hình phạt, sửa Bản án sơ thẩm về quyết định hình phạt, giảm mức án đối với các bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phíên tòa hôm nay.

Đối với nội dung kháng cáo xin hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ của các bị cáo Phan Thị L, Nguyễn Thị Ánh N, Phạm Thị X, HĐXX thấy:

Tại phiên tòa, các bị cáo đều xin hưởng hình phạt cải tạo tại địa phương, tuy nhiên xét các bị cáo phạm tội có tính chất nghiêm trọng và đều có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS. Do đó việc cho các bị cáo được hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ là không tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận nội dung kháng cáo này của các bị cáo Phan Thị L, Nguyễn Thị Ánh N, Phạm Thị X.

Đối với nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ của bị cáo Nguyễn Hữu T.

Bị cáo Nguyễn Hữu T là người trực tiếp tham gia đánh số lô, đề với tổng số tiền phải chịu trách nhiệm hình sự là 25.200.000 đồng. Cấp sơ thẩm đã xem xét tính chất hành vi, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo và xử phạt bị cáo mức hình phạt 06 (sáu) tháng tù là đúng pháp luật và không nặng, do đó không có căn cứ chấp nhận nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo;

Đối với nội dung xin hưởng hình phạt cải tại tại địa phương, thấy rằng: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội đã đi đầu thú; bố bị cáo là thương binh; Bị cáo có thư khen ngày 17/7/2020 của UBND xã Châu lý về cứu người đuối nước. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét thấy, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, việc cho bị cáo hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ không gây nguy hiểm cho xã hội. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo, chuyển từ hình phạt tù sang hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo cũng tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Đối với hình phạt cải tạo không giam giữ phải khấu trừ một phần thu nhập của bị cáo từ 5% đến 20% để sung quỹ nhà nước. Tuy nhiên trong hồ sơ thể hiện bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, tại phiên tòa bị cáo Thành trình bày đời sống gia đình gặp nhiều khó khăn, nên miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Thành.

Về án phí: Các bị cáo Phan Thị L, Nguyễn Thị Ánh N, Phạm Thị X, Nguyễn Hữu T được chấp nhận kháng cáo nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 564/2020/HS-ST ngày 30/11/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực Pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Phan Thị L, Nguyễn Thị Ánh N, Phạm Thị X, sửa Bản án sơ thẩm số 564/2021/HS-ST ngày 30 tháng 11 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, về phần quyết định hình phạt, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm đ khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu T, sửa Bản án sơ thẩm số 564/2021/HS-ST ngày 30 tháng 11 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An về biện pháp chấp hành hình phạt. Chuyển hình phạt tù sang hình phạt cải tạo không giam giữ cho bị cáo.

Tuyên bố: Các bị cáo Phan Thị L, Nguyễn Thị Ánh N, Phạm Thị X, Nguyễn Hữu T phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt Phan Thị L 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/7/2020 đến ngày 03/8/2020.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 56 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Thị Ánh N 14 (Mười bốn) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Tổng hợp 06 (sáu) tháng tù được quy đổi từ 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ tại Bản án số 230/2020/HSST ngày 05/6/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/7/2020 đến ngày 09/9/2020 và được trừ đi thời gian tạm giữ tại Bản án số 230/2020/HSST ngày 05/6/2020 từ ngày 17/12/2019 đến ngày 20/12/2019.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt Phạm Thị X 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/7/2020 đến ngày 03/8/2020.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ về tội "Đánh bạc", nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 24/7/2020 đến ngày 27/7/2020 là 03 ngày, cứ 01 ngày bị tạm giữ bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ, tổng cộng được trừ 09 ngày cải tạo không giam giữ. Còn phải chấp hành 17 (mười bảy) tháng 21 (hai mốt) ngày cải tạo không giam giữ.

Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Nguyễn Hữu T.

Thời hạn cải tạo không giam giữ của bị cáo Nguyễn Hữu T tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao Bản án.

Giao bị cáo Nguyễn Hữu Tcho Ủy ban nhân dân phường Hà Huy Tập, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường Hà Huy Tập, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Việc thay đổi nơi cư trú, thực hiện những nghĩa vụ của bị cáo được thực hiện theo quy định tại Luật thi hành án hình sự.

Về án phí: Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Các bị cáo Phan Thị L, Nguyễn Thị Ánh N, Phạm Thị X, Nguyễn Hữu Tkhông phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 564/2021/HS-ST ngày 30 tháng 11 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ