vanban.org

Bản án 86/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị Quỳnh L đƣợc ly hôn với anh Nguyễn Hải N ( theo giấy chứng nhận kết hôn số 86, ngày 17/4/2018 tại Ủy ban nhân dân phƣờng T, thị xã Dĩ An (nay là thành phố Dĩ An), tỉnh Bình Dƣơng .

Về con chung: Quá trình chung sống không có con chung. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Đƣơng sự không yêu cầu, Tòa án không giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Đỗ Thị Quỳnh L yêu cầu ly hônvới anh Nguyễn Hải N"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị Quỳnh L đƣợc ly hôn với anh Nguyễn Hải N ( theo giấy chứng nhận kết hôn số 86, ngày 17/4/2018 tại Ủy ban nhân dân phƣờng T, thị xã Dĩ An (nay là thành phố Dĩ An), tỉnh Bình Dƣơng .
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự Tòa án; Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự Tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
——————————
Bản án số: 86/2021/HNGĐ-ST
Ngày 05-11-2020
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Kiều Thị Uyên

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hoàn.

2. Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Anh Ly - Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh B.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh B xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 162/2021/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2021 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 85/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 96/2021/QĐST-HNGĐ ngày 06/10/2021, giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị Quỳnh L, sinh năm 1987; thƣờng trú: Thôn Hội, xã S, huyện V, tỉnh T. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Hải N, sinh năm 1980; thƣờng trú: Số 70/18A khu phố Đông Chiêu, phƣờng T, thành phố D, tỉnh B. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 05 tháng 4 năm 2021 và l i khai trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Đỗ Thị Quỳnh L trình bày:

- Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Hải N sau một thời gian tìm hiểu nhau đến năm 2018 thì tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cƣới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phƣờng T, thị xã Dĩ An (nay là phƣờng T, thành phố Dĩ An), tỉnh Bình Dƣơng theo giấy chứng nhận kết hôn số 86, ngày 17/4/2018.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống cùng gia đình chồng tại khu phố Đông Chiêu, phƣờng T, thành phố D, tỉnh B. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống dẫn đến thƣờng xuyên cãi nhau, anh Nam thƣờng xuyên uống rƣợu về chửi bới hàng xóm, đánh đập gây thƣơng tích cho chị Liên, ảnh hƣởng đến tinh thần chị. Vợ chồng đã anh chị đã ly thân trong thời gian dài, không thể hàn gắn. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc nên yêu cầu đƣợc ly hôn với anh Nguyễn Hải N.

Về con chung: Quá trình chung sống không có con chung.

Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nghĩa vụ chung về tài sản: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Đối với bị đơn anh Nguyễn Hải N:

Tòa án đã triệu tập hợp lệ để cung cấp bản tự khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; tham gia phiên tòa nhƣng vắng mặt không có lý do, không cung cấp bất cứ tài liệu chứng cứ và không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Thị Quỳnh Liên.

- Tại biên bản xác minh nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị Liên và anh Nam do Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh B tiến hành ngày 03/5/2021, Hội Liên hiệp phụ nữ phƣờng cung cấp thông tin nhƣ sau: Hội liên hiệp phụ nữ phƣờng không nhận đƣợc đơn đề nghị hòa giải hôn nhân giữa chị Đỗ Thị Quỳnh L với anh Nguyễn Hải N, đồng thời Hội cũng không tiếp nhận phản ánh từ đại diện khu phố cũng nhƣ ngƣời dân phản ánh về mâu thuẫn giữa hai anh chị, do đó không biết rõ mâu thuẫn giữa vợ chồng anh chị.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán đƣợc phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã đƣợc thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng Dân sự, tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Sự chấp hành pháp luật của đƣơng sự: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và các quy định pháp luật liên quan. Bị đơn đã đƣợc triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhƣng vắng mặt không có lý do nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 để xét xử vắng mặt bị đơn.

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án nhận thấy yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là có cơ sở theo quy định pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Anh Nguyễn Hải N đã đƣợc tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa vào các ngày 08/7/2021, 05/11/2021 nhƣng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự Tòa án xét xử vắng mặt anh Hải.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị Quỳnh L và anh Nguyễn Hải N là vợ chồng có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 86, ngày 17/4/2018 tại Ủy ban nhân dân phƣờng T, thị xã Dĩ An (nay là thành phố Dĩ An), tỉnh Bình Dƣơng nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Chị Đỗ Thị Quỳnh L cho rằng quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do vợ chồng không có tiếng nói chung, thƣờng xuyên tranh cãi, anh Nguyễn Hải N thƣờng xuyên uống rƣợu về chửi bới hàng xóm, đánh đập gây thƣơng tích cho chị Đỗ Thị Quỳnh L, vợ chồng đã cho nhau nhiều cơ hội để đoàn tụ nhƣng tình cảm không đƣợc cải thiện. Nay, chị Đỗ Thị Quỳnh L xác định tình cảm dành cho anh Nguyễn Hải N không còn, không thể tiếp tục chung sống với nhau đƣợc nên yêu cầu đƣợc ly hôn. Bản thân anh Nguyễn Hải N, sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã triệu tập đến tham gia phiên hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhƣng anh Nguyễn Hải N không có mặt và cũng không có bất kỳ ý kiến gì đối với yêu cầu của nguyên đơn, điều này chứng tỏ tình cảm vợ chồng đã thực sự không còn và không muốn hàn gắn, nếu tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân này cũng không đạt đƣợc mục đích. Vì vậy, xét thấy không thể tiếp tục kéo dài cuộc sống chung của vợ chồng, yêu cầu ly hôn của chị Đỗ Thị Quỳnh L là có cơ sở, phù hợp với quy định của Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên có căn cứ chấp nhận.

Về con chung: Quá trình chung sống không có con chung.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

Từ những phân tích trên, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An là có cơ sở chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Đỗ Thị Quỳnh L phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 147, các Điều 228, 235, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 51, 56, 58 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị Quỳnh L đƣợc ly hôn với anh Nguyễn Hải N ( theo giấy chứng nhận kết hôn số 86, ngày 17/4/2018 tại Ủy ban nhân dân phƣờng T, thị xã Dĩ An (nay là thành phố Dĩ An), tỉnh Bình Dƣơng .

2. Về con chung: Quá trình chung sống không có con chung.

3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Đƣơng sự không yêu cầu, Tòa án không giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Đỗ Thị Quỳnh L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn, đƣợc khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0049488 ngày 08 tháng 4 năm 2021 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố D, tỉnh B.

Các đƣơng sự vắng mặt tại phiên tòa đƣợc quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết hợp lệ./.

Cỡ chữ