- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cao Duy Quang - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Cao Duy Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN THÀNH PHỐ HÀ NỘI ------------ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 86/2020/HSST Ngày: 13/5/2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Phương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Đức Minh
Bà Nguyễn Thị Minh Hồng
- Thư ký phiên toà: Bà Thạch Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân quận Long Biên.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Long Biên tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 13/5/2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 52/2020/TLST-HS ngày 16/3/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2020/QĐXXST-HS ngày 31/3/2020 và Thông báo thay đổi lịch mở phiên tòa ngày 16/4/2020 đối với bị cáo:
CAO DUY Q, sinh năm: 1986; HKTT: tập thể Phương Mai, phường Phương Mai, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội; Chỗ ở: không cố định; nghề nghiệp: Không; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Văn hóa: 12/12; con ông: Cao Đức M; con bà: Lê Thị Mai A; Gia đình có 02 anh chị em, bị cáo là con thứ hai. Vợ: Trần Thanh H, có 03 con, con năm 2005, 2009, 2011. Tiền án, tiền sự: Theo danh chỉ bản số 663 lập ngày 11/112019 của Công an quận Long Biên, thành phố Hà Nội và lý lịch địa phương cung cấp, bị cáo có 02 tiền sự, 01 tiền án.
- Năm 2005, Công an phường Trung Phụng, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. (đã xóa)
- Năm 2008, Công an phường Phạm Đình Hổ, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. (đã xóa)
- Bản án số 260/HSST ngày 15/12/2015, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày 13/8/2015, ra trại ngày 13/5/2017 (đã được xóa án tích).
Bị cáo bị bắt ngày 08/11/2019, hiện tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an thành phồ Hà Nội. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 15 giờ 30 phút ngày 08/11/2019, Tổ công tác 141 Công an thành phố Hà Nội làm nhiệm vụ tại ngã 3 phố Ngọc Lâm – Nguyễn Văn Cừ, phường Gia Thuỵ, quận Long Biên, thành phố Hà Nội phát hiện Trần Anh T (sinh năm: 1973, HKTT: Tổ 25 phường Ngọc Hà, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội) điều khiển xe máy 29H8 – 7579 phía sau chở Cao Duy Q có biểu hiện nghi vấn về ma túy nên tổ công tác dừng xe kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra phát hiện tại vành mũ lưỡi trai Cao Duy Q đang đội trên đầu có 01 gói giấy bạc chứa chất bột màu trắng. Tại chỗ, Q khai nhận đó là ma túy heroine của Q mua để sử dụng. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong tang vật, sau đó đưa các đối tượng về trụ sở công an phường Gia Thụy xác minh làm rõ.
Tang, tài vật tạm giữ của Q: 01 gói giấy bạc bên trong chứa chất bột màu trắng, 01 mũ lưỡi trai màu đen, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart màu đen, số tiền 700.000 đồng. Tạm giữ của Trần Anh T: 01 xe máy nhãn hiệu Suzuki màu xanh đen BKS 29H8-7***.
Kết luận giám định số 7205/KLGĐ-PC09 ngày 17/11/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy bạc là ma tuý loại Heroine, khối lượng 0,229 gam.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Cao Duy Q khai nhận:
Khoảng 13 giờ ngày 08/11/2019, Q điều khiển xe máy BKS 29H8-7579 từ nhà ở phường Phương Mai, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội đến khu vực Từ Sơn, Bắc Ninh mục đích mua ma tuý để sử dụng cho bản thân. Tại đây, Q gặp và mua của 01 người phụ nữ không quen biết 02 gói ma tuý heroine với giá 200.000 đồng. Sau đó, Q đi ra nghĩa trang gần đó sử dụng 01 gói, gói ma tuý còn lại Q giấu vào vành mũ lưỡi trai đội ở đầu rồi đi xe máy về Trung tâm y tế quận Long Biên để uống thuốc Methadone. Tại đây, Q gặp Trần Anh T (anh họ của Q). Do Q mệt nên bảo anh T chở Q về nhà. Khi đi đến khu vực ngã 3 phố Ngọc Lâm – Nguyễn Văn Cừ, phường Gia Thụy, quận Long Biên, thành phố Hà Nội thì bị lực lượng công an bắt quả tang thu giữ tang vật như đã nêu trên.
Tại Bản cáo trạng số: 51/CT-VKS ngày 06/3/2020, Viện Kiểm sát nhân dân quận Long Biên đã truy tố Cao Duy Q về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa: Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận tại phiên tòa như sau:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa thấy rằng: Hành vi của bị cáo Cao Duy Q đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Về tình tiết tăng nặng: không có. Về nhân thân, bị cáo có 02 tiền sự, 01 tiền án mặc dù đã xóa nhưng xác định bị cáo có nhân thân xấu. Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Cao Duy Q mức án từ 20 đến 24 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền do bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị cho tịch thu tiêu hủy 0,229 gam ma túy loại Heroine thu giữ của bị cáo và 01 mũ lưỡi trai màu đen là công cụ phương tiện thực hiện tội phạm và không còn giá trị sử dụng.
Đề nghị cho tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 xe máy Suzuki Viva BKS 29H8-7***, số khung: 108987, số máy 107987 thu giữ của bị cáo do là phương tiện thực hiện tội phạm.
Đề nghị cho thi hành trả lại bị cáo 01 điện thoại di động Vsmart và số tiền 700.000 đồng do không liên quan đến hành vi thực hiện tội phạm nhưng cho tạm giữ lại số tiền 200.000 đồng để đảm bảo thi hành án.
Đối với đối tượng bán ma túy cho Q tại khu vực Từ Sơn, Bắc Ninh do Q khai không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ để xử lý là có căn cứ.
Đối với Trần Anh T, quá trình điều tra xác định ngày 08/11/2019 T không biết việc Q đi mua và tàng trữ ma túy trong người, chỉ đến khi cơ quan công an kiểm tra Q thì T mới biết nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với T là có căn cứ.
Nói lời sau cùng bị cáo nhận thấy việc làm của bản thân là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét mở lượng khoan hồng cho bị cáo mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra-Công an quận Long Biên, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo thành khẩn và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu; bản kết luận giám định cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dụng bản cáo trạng của Viện Kiểm sát đã truy tố, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 15h30’ ngày 08/11/2019, tại khu vực ngã 3 phố Ngọc Lâm – Nguyễn Văn Cừ, phường Gia Thuỵ, quận Long Biên, Hà Nội, Cao Duy Q có hành vi tàng trữ trái phép 0,229 gam ma túy Heroine mục đích để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Tổ công tác 141-Công an thành phố Hà Nội phát hiện bắt quả tang cùng tang vật. Hành vi của bị cáo Cao Duy Q có đầy đủ dấu hiệu của tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Do đó, Viện Kiểm sát nhân dân quận Long Biên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nên phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi gây nguy hiểm cho xã hội do mình gây ra. Về nhân thân, bị cáo có 02 tiền sự, 01 tiền án mặc dù đã xóa nhưng Hội đồng xét xử xác định bị cáo có nhân thân xấu.
Cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy: tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn nhận tội, ăn năn hối cải nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có điều kiện kinh tế, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Cho tịch thu tiêu hủy 0,229 gam ma túy loại Heroine thu giữ của bị cáo và 01 mũ lưỡi trai màu đen vì không còn giá trị sử dụng.
Cho tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 xe máy Suzuki Viva BKS 29H8-7***, số khung: 108987, số máy 107987 thu giữ của bị cáo do là phương tiện thực hiện tội phạm.
Cho thi hành trả lại bị cáo 01 điện thoại di động Vsmart và số tiền 700.000 đồng do không liên quan đến hành vi thực hiện tội phạm nhưng cho tạm giữ lại số tiền 200.000 đồng để đảm bảo thi hành án.
Đại diện Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng hình phạt chính, không áp dụng hình phạt bổ sung, về xử lý vật chứng là có căn cứ phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Đối với đối tượng bán ma túy cho Q tại khu vực Từ Sơn, Bắc Ninh do Q khai không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ để xử lý, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là có căn cứ.
Đối với Trần Anh T, quá trình điều tra xác định ngày 08/11/2019 T không biết việc Q đi mua và tàng trữ ma túy trong người, chỉ đến khi cơ quan công an kiểm tra Q thì T mới biết nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với T là có căn cứ.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Cao Duy Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015:
Xử phạt bị cáo Cao Duy Q 22 (Hai mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 08/11/2019.
2.Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy 0,229 gam ma túy loại Heroine (Hiện đang lưu giữ tại Kho tang vật Công an quận Long Biên theo Phiếu nhập vật chứng ngày 03/3/2020) và 01 mũ lưỡi trai màu đen (Hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự quận Long Biên theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/3/2020).
Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động Vsmart và số tiền 700.000 đồng nhưng cho tạm giữ lại số tiền 200.000 đồng để đảm bảo thi hành án. (Hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự quận Long Biên theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/3/2020 và Kho bạc Nhà nước quận Long Biên theo Giấy nộp tiền ngày 10/3/2020).
3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Án xử công khai sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND T.p Hà Nội; - VKSND q.Long Biên; - Chi cục THADS q.Long Biên; - Sở Tư pháp T.p Hà Nội; - Thi hành án hình sự; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu HS, VP. | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Thanh Phƣơng |