- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 86 /2020/ HS-ST Ngày: 12/6/2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Giang Thị Thúy Thu.
Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thinh;
Ông Lê Văn Tú.
-Thư ký phiên toà: Bà Quách Thị Tuyết - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 77/ 2020/TLST-HS, ngày 21 tháng 04 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2020/QĐXXST-HS, ngày 01tháng 06 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn H ( tên gọi khác: Không) - Sinh năm 1980; tại huyệnT, tỉnh Nam Định; Nơi ĐKHKTT: xóm M, xã V, huyện T, tỉnh Nam Định; Nơi ở : phố H, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Đức S (đã chết) và bà Vũ Thị T; Vợ: Nguyễn Thị Kim N (đã ly hôn); con: có 1 con sinh năm 2008;
Tiền án: bản án số 43/2017/HSST ngày 26/4/2017, Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình xử phạt Nguyễn Văn H 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.( Ra trại ngày 20/3/2018)
Tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 09/01/2013 Công an phường Đông Thành, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình ra Quyết định số 04 xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 1.000.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Ngày 09/07/2015 Công an phường Đông Thành, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình ra Quyết định số 56 xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Ngày 26/08/2015 Công an phường Ninh Sơn, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình ra Quyết định số 26 xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Ngày 15/12/2015 Công an phường Ninh Sơn, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình ra Quyết định số 01 xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
- Ngày 10/02/2016 Công an phường Ninh Sơn, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình ra Quyết định số 03 xử phạt cảnh cáo về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Ngày 17/07/2016 Công an phường Ninh Sơn, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình ra Quyết định số 34 xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Ngày 09/01/2017 Công an phường Ninh Sơn, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình ra Quyết định số 06 xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
Các xử phạt hành chính của bị cáo đã được xóa;
bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/10/2019, đến ngày 05/11/2019 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình cho đến nay (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: chị Nguyễn Thị Kim N sinh năm 1983; Nơi cư trú: phố H, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; ( vắng mặt)
- Người làm chứng:
+ Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1973; (Vắng mặt)
+ Ông Đinh Văn T, sinh năm 1964; (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt nhau sau:
Hồi 10 giờ 30 phút, ngày 30/10/2019, Tổ công tác Công an phường Tân Thành, thành phố Ninh Bình phối hợp cùng Công an phường Bích Đào, thành phố Ninh Bình làm nhiệm vụ tại đường Trần Nhân Tông, phố Phúc Thịnh, phường Bích Đào, thành phố Ninh Bình phát hiện Nguyễn Văn H đang chuẩn bị điều khiển xe mô tô đi có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra, thấy vậy H đã ném từ trên tay phải xuống mặt đường 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng bên trong có 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng túi nilon màu trắng kích thước (2x2) cm bên trong là chất tinh thể màu trắng xuống mặt đường cạnh chỗ H đứng thì bị Tổ công tác phát hiện yêu cầu nhặt lên giao nộp. H chấp hành và khai nhận gói nhỏ trong bao thuốc lá Thăng Long là ma túy đá mà H vừa nhờ Tr mua về để sử dụng. Tổ công tác đã niêm phong vật chứng theo đúng quy định của pháp luật và đưa H cùng vật chứng về trụ sở Công an phường Bích Đào, thành phố Ninh Bình lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang. Ngoài ra còn thu giữ của H 01 chiếc xe mô tô hiệu DEARY biển kiểm soát N, 01 chiếc điện thoại di động hiệu SamSung màu đen và 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng.
Cơ quan Công an tiến hành cân xác định khối lượng chất tinh thể màu trắng trong túi nilon thu giữ của Nguyễn Văn H có khối lượng là 0,205 gam ký hiệu M gửi giám định xác định loại ma túy, khối lượng chất ma túy.
Tại bản kết luận giám định số 322/KLGĐ - PC09 - MT ngày 04/11/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng gửi giám định kí hiệu M có khối lượng 0,2098 gam là ma túy loại Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy thuộc bảng Danh mục II, số thứ tự 323; Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/05/2018 của Chính phủ. Số Methamphetamine thu giữ của bị cáo sau khi lấy mẫu giám định (không hoàn trả mẫu vật) số còn lại 0,1426 gam cùng toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong được niêm phong trong một phong bì ghi số 322/KLGĐ- PC09- MT, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình đã chuyển cho Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình quản lý để giải quyết cùng vụ án.
Quá trình điều tra Nguyễn Văn H khai nhận: khoảng 09 giờ 45 phút ngày 30/10/2019, Nguyễn Văn H đang ở nhà thì nhận được điện thoại của một người tên Tr nhà ở xã N, thành phố N có số sim 0948714135 gọi đến số thuê bao 0369657063 của Hữu nói“Có tiền không đưa đây 150.000 đồng làm tý”. H hiểu ý Tr rủ góp tiền để đi mua ma túy đá về sử dụng nên đồng ý và trả lời“còn có một trăm hai mấy nghìn”. Sau đó H điều khiển xe mô tô đến nhà Tr. Đến nơi H đưa cho Tr 129.000 đồng, Tr cầm tiền và bảo H ngồi đợi còn Tr điều khiển xe mô tô đi. Khoảng 15 phút sau Tr gọi điện thoại cho H bảo đi ra quán Nét ở đường Trần Nhân Tông, phố Hưng Thịnh, phường Bích Đào, thành phố Ninh Bình để lấy ma túy. H liền điều khiển xe mô tô đến quán Nét gặpTr. Khi gặp Tr đưa cho H 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng loại dẹt đã qua sử dụng và bảo H“trong đây này” rồi bỏ đi. H hiểu Tr nói là ma túy đá để trong bao thuốc nên cầm bao thuốc lá ở tay phải chuẩn bị điều khiển xe xe để đi tìm chỗ sử dụng thì bị Tổ công tác phát hiện thu giữ ma túy.
Tại bản cáo trạng số 75/CT- VKS, ngày 20 tháng 04 năm 2020 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố bị cáo Nguyễn Văn H ra trước Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình để xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H từ 18 đến 21 tháng tù; Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 30/10/2019. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong theo đúng quy định của pháp luật mặt trước ghi số 322/KLGĐ-PC09-MT; 01 phong bì niêm phong dán kín ký hiệu A2; 01 phong bì niêm phong dán kín mặt trước ghi vỏ bao thuốc lá. Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến tranh luận gì và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Về tội danh, hình phạt đối với bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ; kết luận giám định số 322/KLGĐ - PC09 - MT ngày 04/11/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình và phù hợp với lời khai của người làm chứng. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Ngày 30/10/2019 tại đường Trần Nhân Tông, phố Phúc Thịnh, phường Bích Đào, thành phố Ninh Bình, bị cáo Nguyễn Văn H đã có hành vi cất giữ bất hợp pháp trong người 0,2098gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt giữ, hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý mà còn làm ảnh hưởng trực tiếp đến trật tự an toàn xã hội, đến sức khoẻ của con người và là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác…Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng để thoả mãn nhu cầu của bản thân bị các vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy cần phải xử lý nghiêm minh buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự để răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong nhân dân.
Về nhân thân: bị cáo nhiều lần bị xử lý hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và 1 lần bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản tuy đã được xóa nhưng cũng cho thấy bị cáo là người có nhân thân xấu, khó giáo dục, cải tạo.
Về tình tiết tăng nặng: ngày 26/4/2017, Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình kết án bị cáo 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do lỗi cố ý nên lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để tạo điều kiện cho bị cáo học tập, lao động, cải tạo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Hội đồng xét xử thấy hành vi, tội danh và điều khoản áp dụng tại bản cáo trạng, lời luận tội, các chứng cứ buộc tội đối với bị cáo như Kiểm sát viên trình bày tại phiên tòa là có căn cứ và đúng pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Xét hành vi tàng trữ ma túy của bị cáo chỉ nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, không mang tính chất vụ lợi, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Các vấn đề khác:
- Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ: H khai góp tiền với Tr nhà ở xã N, thành phố N sử dụng điện thoại có số sim 0948714135 để Tr đi mua ma túy. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình đã xác minh và triệu tập Điền Văn Tr ,sinh năm 1974; trú tại: thônV, xã N, thành phố Ninh Bình lên làm việc. Tại cơ quan điều tra, Tr khai nhận không có quan hệ gì với Nguyễn Văn H và không sử dụng số thuê bao 0948714135 để liên lạc góp tiền mua ma túy đưa cho H ngày 30/10/2019. Cơ quan cảnh sát điều tra đã triệu tập nhiều lần Tr lên làm việc nhưng Tr không có mặt tại địa phương. Đối với số thuê bao 0948714135 được đăng ký mang tên bà Phạm Thị N, sinh năm1960; trú tại: khóm L, phường 1, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp có số chứng minh nhân dân 340727176, bà Phạm Thị N có đăng ký hộ khẩu tại phường 1, thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp nhưng một năm nay bà N không có mặt tại địa phương, chính quyền địa phương không biết bà N đi đâu, làm gì. Đối với số chứng minh nhân dân 340727176 là của ông Nguyễn Văn M sinh năm 1965 trú tại Ấp 4, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, tuy nhiên ông M đã chết ngày 17/9/2018. Do đó, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình đã tách phần tài liệu liên quan đến Điền Văn Tr và số thuê bao 0948714135 để tiếp tục xác minh làm rõ và đề nghị xử lý sau là có căn cứ.
- Vật chứng của vụ án: Số ma túy, loại Methamphetamine thu giữ của bị cáo có khối lượng 0,2098 gam, sau khi lấy mẫu giám định (không hoàn trả mẫu vật) số còn lại 0,1426 gam cùng toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong là vật Nhà nước cấm lưu hành, 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với 01 điện thoại di động SamSung màu đen thu giữ của bị cáo: quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị Kim N ( vợ cũ của Nguyễn Văn H). Chị N không biết việc bị cáo H sử dụng chiếc điện thoại trên để liên lạc đi mua ma túy. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc điện thoại trên cho chị N, chị N đã nhận lại tài sản, không có đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với 01 chiếc xe mô tô hiệu DEARY biển kiểm soát N thu giữ của bị cáo: Quá trình điều tra xác định, chiếc xe mô tô đăng ký mang tên Phạm Thế V trú tại số phường M, quận B, thành phố Hồ Chí Minh. Tháng 12 năm 2005 chị Nguyễn Thị Kim N ( vợ cũ của Hữu) mua lại chiếc xe mô tô trên của Phạm Thế V nhưng không có giấy mua bán xe, chưa làm thủ tục sang tên chủ sở hữu. Chị N không biết H sử dụng chiếc xe mô tô trên để đi mua ma túy. Qúa trình điều tra xác minh tại địa chỉ phường M, quận B, thành phố Hồ Chí Minh trước đây có ông Phạm Thế Vh sinh năm 1949 sinh sống, đến năm 2000 ông V đã bán nhà chuyển đến địa chỉ 10/18, đường số 9, khu phố 4, phường Bình An, quận 2, thành phố Hồ Chí Minh nhưng hiện tại không có ai tên là Phạm Thế V cư trú tại địa chỉ trên. Do chưa làm rõ được việc mua bán xe giữa ông V và chị N nên Cơ quan CSĐT Công an thành phố Ninh Bình đã tách phần tài liệu liên quan đến chiếc xe trên để tiếp tục điều tra làm rõ là đúng quy định của pháp luật.
Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 20 ( Hai mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 30/10/2019.
Việc xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong theo đúng quy định của pháp luật mặt trước ghi số 322/KLGĐ-PC09-MT; 01 phong bì niêm phong dán kín ký hiệu A2; 01 phong bì niêm phong dán kín mặt trước ghi vỏ bao thuốc lá; (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/4/2020 giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố Ninh Bình và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình).
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Áp dụng Điều 26 Luật Thi hành án dân sự: “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Bình; - Sở tư pháp tỉnh Ninh Bình; - VKSND- TPNB; - THADS- TPNB; - THAHS; - Công an TPNB; - Bị cáo; người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn./. Các Hội thẩm nhân dân | TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Giang Thị Thúy Thu Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Giang Thị Thúy Thu |