vanban.org

Bản án 86/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 17/11/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Nguyễn Bá Cảnh D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

* Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,2414 gam Heroine (trừ mẫu giám định còn lại 0,2137 gam); 0,2506 gam Methamphetamine (trừ mẫu giám định còn lại 0,1428 gam); các mảnh giấy thiếc màu trắng vàng cùng túi nilon; 01 chiếc coóng thủy tinh; 01 ống hút bằng nhựa; 01 vỏ hộp giấy hình chữ nhật màu đe… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Bá Cánh D phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số đi…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Nguyễn Bá Cảnh D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ TĨNH
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 86/2020/HS-ST
Ngày: 17/11/2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ TĨNH, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Minh Thư

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Duy Cừ

Bà Võ Thị Hoa

- Thư ký Toà án: Bà Trương Thị Thúy Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Thu Hường - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 11 năm 2020 tại hội trường xét xử Hình sự, Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 80/2020/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2020/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Bá Cảnh D, sinh ngày: 16/06/1980; giới tính: Nam; nơi sinh: Phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Tổ dân phố 8, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; con ông Nguyễn Bá Thủy (đã chết); con bà Đậu Thị P; vợ: (trước đây có kết hôn với chị Võ Thị T, hiện đã ly hôn); con: Có 01 con sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân:

- Ngày 06/07/1999 bị Tòa án nhân dân thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” quy định tại khoản 1 Điều 155 Bộ luật hình sự 1985 theo Bản án số 15 HS-ST. Thi hành án tại Trại tạm giam Công an Hà Tĩnh (Hiện đã xóa án tích)

- Ngày 26/04/2013 bị Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 14 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 135 Bộ luật hình sự 1999. Thi hành án tại Trại tạm giam Công an Hà Tĩnh (Hiện đã xóa án tích)

Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ tạm giam từ ngày 19/06/2020 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người chứng kiến:

Anh Phan Tuấn N, sinh năm 1997; trú tại: Tổ dân phố 8, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh (vắng mặt).

Ông Trương Văn K, sinh năm 1969; Tổ dân phố 8, phường Tân G, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh (vắng mặt).

- Người làm chứng: Bà Đậu Thị P, sinh năm 1947; trú tại: Tổ dân phố 8, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Bá Cảnh D là đối tượng sử dụng ma túy đá và Heroine. Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 19/06/2020, Nguyễn Bá Cảnh D thuê một người lái xe taxi không quen biết đi từ xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh để về nhà tại phường T, thành phố H. Khi đi đến khu vực phường H, thị xã K, D nảy sinh ý định mua ma túy Heroine để sử dụng. D nói với người lái xe taxi dừng xe rồi mở cửa đi xuống lấy chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia 105 màu đen gắn sim số 0948188588 gọi đến số thuê bao 0941348677 của một người đàn ông tên L (không rõ lý lịch, địa chỉ) hỏi mua 900.000 đồng ma túy Heroine thì người đàn ông tên L đồng ý. Khi về đến thị trấn C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh, D nói với người lái xe taxi dừng xe rồi đi xuống xe lấy điện thoại cho người đàn ông tên L để hỏi địa điểm giao nhận ma túy. D và người đàn ông tên L thống nhất giao nhận ma túy ở khu vực đường 2, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. Khi về đến điểm hẹn, D xuống xe taxi và đi lại gặp người đàn ông tên L, D đưa số tiền 900.000 đồng đồng thời người đàn ông tên L đưa cho D 01 gói giấy thiếc màu trắng vàng, bên trong có 02 mảnh giấy thiếc màu trắng vàng kích thước 1,5cm x 1,5cm bọc 02 cục chất bột nén màu trắng. D biết là ma túy Heroine nên cầm lấy và bỏ vào trong túi áo phía trước bên trái của D đang mặc rồi lên taxi đi về nhà. Khi về đến ngõ 01, đường M thuộc tổ dân phố 8, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh, D xuống xe taxi và đi bộ để về nhà thì bị Cơ quan Công an thành phố H phát hiện bắt quả tang, thu giữ cùng tang vật. Ngoài ra trước đó vào khoảng tháng 05/2020, D mua 500.000 đồng ma túy đá của một người đàn ông không quen biết ở tỉnh N. D lấy số ma túy đá trên sử dụng một ít, còn lại số chất tinh thể màu trắng và 01viên nén hình tròn màu hồng cất dấu trong 01 hộp giấy hình chữ nhật màu đen có chữ RayBan để trên kệ tủ đặt trong phòng ngủ thì bị Cơ quan điều tra khám xét thu giữ. Toàn bộ số ma túy D mua với mục đích sử dụng.

Kết luận giám định số 125/GĐMT-PC09 ngày 21/6/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh xác định:

- 01 cục chất bột nén màu trắng bọc trong mảnh giấy thiếc màu trắng vàng kích thước 1,5cm x1,5cm (ký hiệu M1) bên ngoài gói bằng giấy thiếc màu trắng vàng gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,1305gam, là Heroine.

- 01 cục chất bột nén màu trắng bọc trong mảnh giấy thiếc màu trắng vàng kích thước 1,5cm x1,5cm (ký hiệu M2) bên ngoài gói bằng giấy thiếc màu trắng vàng gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,1109gam, là Heroine.

- 01 viên nén hình tròn màu hồng được đựng trong 01 túi ni lông trong suốt kích thước 03cm x03cm (ký hiệu M3) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,0891gam, là Methamphetamine.

- Số chất tinh thể màu trắng được đựng trong 01 túi ni lông trong suốt có kích thước 1,5cm x 2,5cm (ký hiệu M4) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1615 gam, là Methamphetamine.

Heroine là chất ma túy nằm trong Danh mục I, STT 09, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II. C, STT 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra thu giữ tại Nguyễn Bá Cảnh D 0,2414 gam Heroine (trừ mẫu giám định còn 0,2137 gam); 0,2506 gam Methamphetamine (trừ mẫu giám định còn 0,1428 gam); 03 mảnh giấy thiếc màu trắng vàng kích thước 1,5cm x 1,5cm; 01 túi nilon trong suốt kích thước 03cm x 03cm; 01 túi nilon trong suốt kích thước 1,5cm x 2,5cm; 01 chiếc coóng thủy tinh; 01 ống hút bằng nhựa; 01 vỏ hộp giấy hình chữ nhật màu đen bên ngoài có chữ Rayban; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia 105 màu đen. Những vật chứng trên chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H.

Bản cáo trạng số 79/CT-VKS-TPHT ngày 01/10/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H truy tố Nguyễn Bá Cảnh D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H giữ nguyên quan điểm như nội dung cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Bá Cảnh D từ 18 đến 24 tháng tù; không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung; đề nghị xử lý vật chứng.

Bị cáo Nguyễn Bá Cảnh D không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo nhận thức được sai phạm và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng:

Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.

Về chứng cứ xác định tội danh:

Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an thành phố H lập hồi 21 giờ 22 phút ngày 19/6/2020 tại ngõ 1, đường M thuộc tổ 8, phường T, thành phố H; phù hợp với lời khai của người chứng kiến, người làm chứng; phù hợp với các vật chứng vụ án được thu giữ; Kết luận giám định số 125/GĐMT-PC09 ngày 21/6/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, xác định được: Vào hồi 21 giờ 20 phút ngày 19/6/2020, tại khu vực ngõ 01, đường M thuộc tổ dân phố 8, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh, Nguyễn Bá Cảnh D đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,2414 gam Heroine, đồng thời D còn tàng trữ trái phép 0,2506 gam Methamphetamine tại nhà của D ở số 08, ngõ 01, đường M thuộc tổ dân phố 8, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh để sử dụng thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H phát hiện bắt giữ cùng tang vật. Bị cáo Nguyễn Bá Cảnh D có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử có đầy đủ căn cứ kết tội bị cáo Nguyễn Bá Cảnh D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo; bố, mẹ bị cáo là người có công (được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhất) nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt:

Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Bá Cảnh D là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm vào chế độ quản lý của nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội trên địa bàn; bị cáo có nhân thân xấu. Do đó, cần xử phạt bị cáo với mức án nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn nên cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung:

Theo quy định tại khoản 5 điều 249 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Trong vụ án, theo lời khai của Nguyễn Bá Cảnh D thì ma túy Heroine mua của một người đàn ông tên L có số điện thoại 0941348677. Cơ quan điều tra đã tra cứu, xác minh chủ số thuê bao trên là của Nguyễn Thành L (sinh ngày 26/3/1987, có hộ khẩu thường trú tại tổ dân phố 1, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh). Tuy nhiên quá trình xác minh tại địa phương Nguyễn Thành L hiện không có mặt tại địa phương nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ sau. Đối với người đàn ông bán ma túy Methamphetamine cho D ở tỉnh Nghệ An và người lái xe taxi chở D thông tin về về lý lịch, địa chỉ của những đối tượng này không rõ ràng, cụ thể nên Cơ quan điều tra không điều tra làm rõ được. Đối với bà Đậu Thị P (là mẹ của D) không biết D tàng trữ trái phép ma túy trong nhà nên Cơ quan Điều tra không xử lý.

Xét luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng pháp luật, về mức án đề nghị là phù hợp.

Về xử lý vật chứng:

Cần tịch thu tiêu hủy 0,2414 gam Heroine (trừ mẫu giám định còn lại 0,2137 gam); 0,2506 gam Methamphetamine (trừ mẫu giám định còn lại 0,1428 gam); các mảnh giấy thiếc màu trắng vàng cùng túi nilon; 01 chiếc coóng thủy tinh; 01 ống hút bằng nhựa; 01 vỏ hộp giấy hình chữ nhật màu đen bên ngoài có chữ Rayban.

Cần tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia 105 màu đen thu giữ tại bị cáo là công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Nguyễn Bá Cảnh D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Bá Cảnh D 21 (hai mƣơi mốt) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/06/2020.

* Về xử lý vật chứng:

Căn cứ điểm a, c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 0,2414 gam Heroine (trừ mẫu giám định còn lại 0,2137 gam); 0,2506 gam Methamphetamine (trừ mẫu giám định còn lại 0,1428 gam); các mảnh giấy thiếc màu trắng vàng cùng túi nilon; 01 chiếc coóng thủy tinh; 01 ống hút bằng nhựa; 01 vỏ hộp giấy hình chữ nhật màu đen bên ngoài có chữ Rayban..

Căn cứ điểm a khoản 1 điều 47 BLHS; khoản 1; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia 105 màu đen có gắn thẻ sim 0948188588 thu giữ của bị cáo là công cụ sử dụng vào việc phạm tội.

(Đặc điểm, tình trạng vật chứng thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng lập hồi 16 giờ 00 phút ngày 02/10/2020 giữa cán bộ Cơ quan điều tra Công an thành phố H và cán bộ Chi cục thi hành án dân sự thành phố H).

* Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội, buộc bị cáo Nguyễn Bá Cảnh D phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ