- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? * Áp dụng Điều 28; 35; 147; 228; 235; 238; 264; 271; 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiếp tục; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 86/2020/HNGĐ-ST Ngày 25-12-2020 V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Thân Trọng Khôi
Các hội thẩm nhân dân: Ông: Dương Thanh Bình
Ông: Nguyễn Quang Vinh
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Tĩnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Tuyết - Kiểm sát viên.
Ngày 25/12/2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 335/2020/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2020 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 143/2020/QĐXXST-DS ngày 16/10/2020; Quyết định hoãn phiên tòa số: 108/2020/QĐST-DS ngày 12/11/2020; Quyết định hoãn phiên tòa số: 121/2020/QĐST-DS ngày 27/11/2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lò Thị Kim O, sinh năm 1992 (vắng mặt, có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt);
Nơi cư trú: Đội 6, xã M, huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1985 (vắng mặt);
Nơi cư trú: Thôn 16, xã H, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện và những lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Lò Thị Kim O trình bày: Chị kết hôn với anh Nguyễn Văn T ngày 05/12/2014 trước khi cưới có được tìm hiểu, tự nguyện thỏa thuận, đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận đến tháng 5/2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách vợ chồng không hợp nhau, nên trong cuộc sống và trong công việc làm ăn hằng ngày vợ chồng thường bất đồng quan điểm cãi chửi nhau, không bảo ban được nhau để cùng làm ăn phát triển kinh tế xây dựng hạnh phúc gia đình. Vợ chồng sống ly thân và cắt đứt mọi quan hệ vợ chồng từ tháng 02/1018. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Anh T1, sinh ngày 25/3/2015; hiện con đang ở cùng anh T, con khỏe mạnh và phát triển bình thường, nay ly hôn chị và anh T thỏa thuận để anh T nuôi con; không đề nghị Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản: Vợ chồng không có tài sản gì đáng giá, nên chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Nguyễn Văn T trình bày: Chị O trình bày về thời gian kết hôn và quá trình mâu thuẫn là đúng, nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn anh đồng ý ly hôn chị O. Về con chung: Như chị O trình bày là đúng, nay ly hôn anh và chị O thỏa thuận, anh xin nuôi con; không đề nghị Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản: Vợ chồng không có tài sản gì đáng giá, nên anh không đề nghị Tòa án giải quyết. Tuy nhiên anh muốn tự thỏa thuận với chị O xong về tài sản thì anh mới ký các văn bản.
Tại phiên toà hôm nay chị O vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh T vắng mặt, mặc dù đã được Tòa án thông báo phiên tòa hợp lệ đến lần thứ hai.
Phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa: Về việc chấp hành pháp luật tố tụng của thẩm phán, thư ký, hội thẩm nhân dân, các đương sự trong suốt quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay đều tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay chị O vắng mặt có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt, anh T vắng mặt, mặc dù đã được Tòa án thông báo phiên tòa hợp lệ đến lần thứ hai. Do vậy đề nghị HĐXX tiếp tục xét xử vụ án theo quy định của pháp luật. Đề nghị xét xử cho chị O được ly hôn anh T; Về con chung: Giao anh T nuôi cháu T1; Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản: Cả chị O, anh T đều không đề nghị giải quyết, nên đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết; chị O phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Ngoài ra còn đề nghị tuyên quyền kháng cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu đầy đủ, toàn diện các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm vấn công khai tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp, phạm vi khởi kiện, thẩm quyền giải quyết và thủ tục tố tụng: Tại đơn khởi kiện và những lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Lò Thị Kim O, sinh năm 1992; Nơi cư trú: Đội 6, xã M, huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên, khởi kiện xin ly hôn với anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1985; Nơi cư trú: Thôn 16, xã H, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Nội dung: Chị O xin được ly hôn anh T, đề nghị Tòa án giải quyết về con chung, không đề nghị Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con và tài sản. Như vậy đây là quan hệ pháp luật tranh chấp hôn nhân và gia đình, đề nghị xin được ly hôn, đề nghị giải quyết về con chung, không đề nghị giải quyết về cấp dưỡng nuôi con và tài sản, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.
Thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Tại phiên tòa hôm nay chị O vắng mặt có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, anh T vắng mặt, mặc dù đã được Tòa án thông báo phiên tòa hợp lệ đến lần thứ hai. Nên HĐXX áp dụng Điều 228; 238 Bộ luật Tố tụng dân sự tiếp tục xét xử vụ án theo pháp luật.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lò Thị Kim O kết hôn với anh Nguyễn Văn T ngày 05/12/2014, trên cơ sở tự nguyện hợp pháp, đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Quá trình chung sống vợ chồng hoà thuận đến tháng 5/2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách vợ chồng không hợp nhau, nên trong cuộc sống vợ chồng thường bất đồng quan điểm dẫn đến cãi nhau, không bảo ban được nhau để cùng làm ăn phát triển kinh tế, xây dựng hạnh phúc gia đình. Vợ chồng sống ly thân và cắt đứt mọi quan hệ với nhau từ tháng 02/2018. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn chị O thiết tha xin được ly hôn, phía anh T cũng đồng ý ly hôn, không đề nghị Tòa án giải quyết về tài sản, nhưng anh T muốn chị O phải thỏa thuận thêm với anh về tài sản thì anh mới ký cho chị O ly hôn. HĐXX xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã diễn ra căng thẳng, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nguyện vọng xin được ly hôn của chị O là phù hợp quy định của pháp luật. Do vậy cần xử cho chị O được ly hôn anh T để giải phóng cho cả hai bên, xét là phù hợp Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về nuôi con chung: Quá trình chung sống chị O và anh T sinh được 01 con chung là Nguyễn Anh T1, sinh ngày 25/3/2015. Hiện con đang ở cùng anh T, con khỏe mạnh và phát triển bình thường. Nay ly hôn chị O và anh T thỏa thuận để anh T nuôi con; không đề nghị Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con. HĐXX xét thấy thỏa thuận của chị O, anh T là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội cần chấp nhận giao anh T nuôi con, chị O được quyền thăm nom con sau khi đã ly hôn. Xét là phù hợp điều 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Về chia tài sản: Quá trình giải quyết vụ án cả chị O và anh T đều không đề nghị Tòa án giải quyết, tuy nhiên anh T muốn tự thỏa thuận thêm với chị O về một số vấn đề riêng tư về tài sản mà anh không tiện nói ra, tuy nhiên tại phiên tòa hôm nay anh T vắng mặt, mặc dù đã được Tòa án thông báo phiên tòa hợp lệ đến lần thứ hai. Nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết. Nếu sau này có sảy ra tranh chấp về tài sản, Tòa án sẽ giải quyết bằng vụ án khác.
Về án phí: Chị O phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật; được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí chị O đã nộp.
Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
* Áp dụng Điều 28; 35; 147; 228; 235; 238; 264; 271; 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Điều 56; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Điều 26; 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1/ Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lò Thị Kim O được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
2/ Về con chung: Chấp nhận thỏa thuận giao anh Nguyễn Văn T nuôi con chung là Nguyễn Anh T1, sinh ngày 25/3/2015; không đề nghị Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con; chị O được quyền thăm nom con sau khi đã ly hôn, không ai được cản trở chị O thực hiện quyền này.
3/ Về án phí: Chị Lò Thị Kim O phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm. Được khấu trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí chị O đã nộp theo biên lai thu số AA/2019/0002584 ngày 15/10/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang.
Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt án vắng mặt.
Án xử sơ thẩm công khai./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Giang. - VKSND huyện Lạng Giang - Chi cục THA huyện Lạng Giang - UBND xã H, Lạng Giang - Các đương sự - Lưu | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Thân Trọng Khôi |