- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự, hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 86/2019/HSST Ngày 11/11/2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Bích Ngọc.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Ma Trọng Hưng.
2. Ông Lê Xuân Tiếu.
- Thƣ ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Minh Tú, Kiểm sát viên VKSND huyện Chiêm Hóa.
Ngày 11 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 91/2019/TLST - HS ngày 28/10/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/QĐXXST-HS ngày 29/10/2019 đối với bị cáo:
Đoàn Văn T (Tên gọi khác: Không) sinh ngày 24/01/1993, tại huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang; Nơi ĐKHKTT, chỗ ở hiện nay: thôn K, xã N, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông: Đoàn Văn Tr, sinh năm 1971; Con bà: Nguyễn Thị D, sinh năm 1973; Có 03 anh chị em, bị cáo là thứ nhất; Vợ, con: chưa có.
- Tiền án: Không;
- Tiền sự: Ngày 08/02/2019 bị Công an huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/9/2019, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Chiêm Hóa (Có mặt tại phiên tòa).
NỘI D VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả diễn biến tại phiên tòa, nội D vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 40 phút, ngày 23/9/2019, tổ công tác Công an huyện Chiêm Hóa phối hợp với Công an thị trấn V1 nhận được tin báo của quần chúng nhân dân tại phòng trọ của Hà Thị H (thuộc tổ V, thị trấn V1, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang) có nhiều thanh niên lạ mặt có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy. Tổ công tác đến làm việc, phát hiện Đoàn Văn T, sinh năm 1993, trú tại thôn K, xã N, huyện Chiêm Hóa và Hà Thị H, sinh năm 2002, trú tại thôn Thượng Quang, xã Xuân Quang, huyện Chiêm Hóa. Quá trình làm việc, T tự giác lấy trên thanh gỗ trong nhà tắm ở phòng trọ của H giao nộp 01 gói nhỏ có đặc điểm bên ngoài gói bằng nilon màu trắng, mép túi được hàn kín, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, T khai là Methamphetamine. Mục đích để sử dụng.
Hồi 10 giờ 30 phút, ngày 23/9/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chiêm Hóa tiến hành khám xét khẩn cấp phòng trọ của Hà Thị H tại tổ V, thị trấn V1, huyện Chiêm Hóa phát hiện và thu giữ dưới gầm giường trong phòng trọ của H 01 bộ dụng cụ tự chế, T khai là của T dùng để sử dụng ma túy gồm: 01 chai nhựa màu trắng, kích thước 21cm x 6cm, có nắp đậy bằng nhựa màu xanh, trên nắp nhựa có đục hai lỗ nhỏ hình tròn. Bên trên chai nhựa có một ống hút nhựa màu hồng, xuyên qua một lỗ nhỏ dẫn vào trong chai nhựa kích thước 20 cm x 0,5cm và một ống thủy tinh màu trắng kích thước 11cm x 0,5cm có một đầu hình cầu đường kính 1,5cm, đầu còn lại nối với một ống nhựa có kích thước 10cm x 0,5cm xuyên qua lỗ nhỏ còn lại trên nắp chai nhựa dẫn vào trong chai; 01 bật lửa ga màu tím đã qua sử dụng.
Tại biên bản xét nghiệm tìm chất ma túy ngày 23/9/2019 tại Công an huyện Chiêm Hóa đối với Đoàn Văn T, kết quả: (+) Dương tính và đối với Hà Thị H, kết quả: (-) Âm tính.
Tại Kết luận giám định số: 665/GĐKTHS ngày 26/9/2019 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, kết luận: Số chất tinh thể màu trắng trong gói nhỏ thu giữ của Đoàn Văn T là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng 0,162g (không phẩy một sáu hai gam).
Quá trình điều tra Đoàn Văn T khai: Khoảng 13 giờ, ngày 22/9/2019, T một mình từ nhà đi ô tô khách xuống Km31, thuộc xã T1, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang, mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Đến nơi T gặp một người đàn ông không quen biết hỏi “anh có đồ không ?” (ý hỏi mua ma túy tổng hợp dạng đá), người đàn ông nói “có, lấy bao nhiêu ?”, T trả lời “lấy năm trăm” rồi lấy 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng đưa cho người đàn ông; người đàn ông cầm tiền và đưa cho T 01 gói nhỏ có đặc điểm bên ngoài gói bằng nilon màu trắng, mép túi được hàn kín, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng là Methamphetamine. Mua được ma túy, T cất giấu vào túi quần đang mặc rồi đi xe ô tô khách về thị trấn V1, huyện Chiêm Hóa, sau đó T đi bộ về phòng trọ của bạn gái mình tại tổ V, thị trấn V1 là Hà Thị H, sinh năm 2002, trú tại thôn Thượng Quang, xã Xuân Quang, huyện Chiêm Hóa. Thấy H không ở phòng trọ, T lấy một ít ma túy ra sử dụng bằng cách đốt hút vào cơ thể, số còn lại, T cất giấu lên thanh gỗ trong nhà tắm phòng trọ của H. Đến 08 giờ ngày 23/9/2019, thì bị tổ công tác của Công an huyện Chiêm Hóa phát hiện, bắt giữ cùng tang vật.
Tại phiên tòa bị cáo Đoàn Văn T tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nội dung khai báo của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, không có tình tiết mới.
Bản Cáo trạng số 92/CT-VKSCH ngày 28/10/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa đã truy tố Đoàn Văn T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện. Do đó, giữ nguyên quyết định truy tố đối với Đoàn Văn T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Khoản 1 điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đoàn Văn T từ 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam; Bị cáo phạm tội không có tính chất vụ lợi nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt sau các mép dán có chữ ký xác nhận của Đoàn Văn T, thành phần tham gia niêm phong và 05 (Năm) hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, mặt trước ghi tang vật vụ Đoàn Văn T giám định ngày 24/9/2019; 01 bộ dụng cụ để sử dụng ma túy gồm: 01 chai nhựa màu trắng, kích thước 21cm x 6cm, có nắp đậy bằng nhựa màu xanh, trên nắp nhựa có đục hai lỗ nhỏ hình tròn. Bên trên chai nhựa có một ống hút nhựa màu hồng, xuyên qua một lỗ nhỏ dẫn vào trong chai nhựa kích thước 20 cm x 0,5cm và một ống thủy tinh màu trắng kích thước 11cm x 0,5cm có một đầu hình cầu đường kính 1,5cm, đầu còn lại nối với một ống nhựa có kích thước 10cm x 0,5cm xuyên qua lỗ nhỏ còn lại trên nắp chai nhựa dẫn vào trong chai; 01 bật lửa ga màu tím đã qua sử dụng.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Đoàn Văn T quá trình điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét và xử lý. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Đoàn Văn T, công an huyện Chiêm Hóa đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Đối với Hà Thị H, không biết Đoàn Văn T sử dụng phòng trọ của mình tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy nên không đề nghị xem xét giải quyết trong vụ án.
Ngoài ra đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Kết thúc phần tranh luận bị cáo nói lời sau cùng: Nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội D vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Xét về hành vi, quyết định tố tụng: Điều tra viên và Cơ quan điều tra Công an huyện; Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân huyện, trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, thủ tục tạm giam, tạm giữ, thu giữ, xử lý vật chứng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Đoàn Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp nội D kết luận điều tra và bản Cáo trạng đã nêu; phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 07 giờ 40 phút, ngày 23/9/2019, tại phòng trọ của Hà Thị H, thuộc tổ V, thị trấn V1, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang, Đoàn Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,162g (Không phảy một sáu hai gam) ma túy, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng.
Hành vi của bị cáo Đoàn Văn T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, trực tiếp xâm phạm vào chính sách quản lý về chất ma túy của Nhà nước. Vì vậy cần áp dụng khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự, phải có mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt đối với bị cáo:
Về các tình tiết tăng nặng: Không.
Về các tình tiết giảm nhẹ: Trước Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho bị cáo.
Bị cáo đã bị cáo bị Công an huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại Quyết định số 23 ngày 08/02/2019, bị cáo không lấy đó làm bài học mà tiếp tục tàng trữ ma túy để sử dụng.
Trong vụ án này bị cáo tàng trữ lượng ma túy trên mức thấp nhất của quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, có một tình tiết giảm nhẹ nên đủ căn cứ xử phạt bị cáo hình phạt tù như Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Đoàn Văn T phạm tội không có tính chất vụ lợi, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt sau các mép dán có chữ ký xác nhận của Đoàn Văn T, thành phần tham gia niêm phong và 05 (Năm) hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, mặt trước ghi tang vật vụ Đoàn Văn T giám định ngày 24/9/2019; 01 bộ dụng cụ để sử dụng ma túy gồm: 01 chai nhựa màu trắng, kích thước 21cm x 6cm, có nắp đậy bằng nhựa màu xanh, trên nắp nhựa có đục hai lỗ nhỏ hình tròn. Bên trên chai nhựa có một ống hút nhựa màu hồng, xuyên qua một lỗ nhỏ dẫn vào trong chai nhựa kích thước 20 cm x 0,5cm và một ống thủy tinh màu trắng kích thước 11cm x 0,5cm có một đầu hình cầu đường kính 1,5cm, đầu còn lại nối với một ống nhựa có kích thước 10cm x 0,5cm xuyên qua lỗ nhỏ còn lại trên nắp chai nhựa dẫn vào trong chai; 01 bật lửa ga màu tím đã qua sử dụng.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại khoản 2 Điều 136, điểm m khoản 2 Điều 61; Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTVQH khóa 14.
Vấn đề khác: Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Đoàn Văn T quá trình điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ nên Hội đồng xét xử không xem xét và xử lý. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Đoàn Văn T, công an huyện Chiêm Hóa đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với Hà Thị H, không biết Đoàn Văn T sử dụng phòng trọ của mình tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy nên không xem xét giải quyết trong vụ án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự, hình phạt:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự:
- Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Đoàn Văn T 01(Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 23/9/2019).
2. Về xử lý đồ vật, vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt sau các mép dán có chữ ký xác nhận của Đoàn Văn T, thành phần tham gia niêm phong và 05 (Năm) hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, mặt trước ghi tang vật vụ Đoàn Văn T giám định ngày 24/9/2019; 01 bộ dụng cụ để sử dụng ma túy gồm: 01 chai nhựa màu trắng, kích thước 21cm x 6cm, có nắp đậy bằng nhựa màu xanh, trên nắp nhựa có đục hai lỗ nhỏ hình tròn. Bên trên chai nhựa có một ống hút nhựa màu hồng, xuyên qua một lỗ nhỏ dẫn vào trong chai nhựa kích thước 20 cm x 0,5cm và một ống thủy tinh màu trắng kích thước 11cm x 0,5cm có một đầu hình cầu đường kính 1,5cm, đầu còn lại nối với một ống nhựa có kích thước 10cm x 0,5cm xuyên qua lỗ nhỏ còn lại trên nắp chai nhựa dẫn vào trong chai; 01 bật lửa ga màu tím đã qua sử dụng.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 29/10/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Chiêm Hóa và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chiêm Hóa).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTVQH khóa 14: Bị cáo Đoàn Văn T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Căn cứ điểm m khoản 2 Điều 61; Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (11/11/2019).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND tỉnh TQ; - VKSND huyện CH; - Cơ quan ĐT CA huyện CH; - Cơ quan THAHS CA huyện CH; - Chi cục THADS huyện CH; - Phòng HSNV, CA tỉnh TQ; - Nhà tạm giữ CA tỉnh TQ; - Bị cáo; - Lưu. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Ma Trọng Hƣng Lê Xuân Tiếu | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Bích Ngọc THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Bích Ngọc |