vanban.org

Bản án 86/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 25/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình su - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VIỆT YÊN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 86/2019/HS-ST
Ngày: 25/10/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Hợp.

Các hội thẩm nhân dân:

1-Ông Nguyễn Ngọc Vân.

2-Bà Nguyễn Thị Lại.

-Thư ký phiên tòa: Bà Chu Thị Minh Nguyệt- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Huyền- Kiểm sát viên.

Ngµy 25 th¸ng 10 n¨m 2019, t¹i trô sở Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang xÐt xö s¬ thÈm vô ¸n h×nh sù thô lý sè: 83/2019/TLST-HS ngµy 29/8/ 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2019 /QĐXXST-HS ngày 25/9/2019 ®èi víi bÞ c¸o:

Nguyễn Anh V, sinh năm 1977.

Trú tại: Số nhà 14, đường B, Tổ 6, Khu 7, phường T, TP. B, tỉnh Bắc Ninh.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Xuân T (đã chết); con bà: Nguyễn Thị T, sinh năm 1946; vợ: Mai Thị L, sinh năm 1990; con: Có 02 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2016.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/5/2019 đến nay, được trích xuất, có mặt tại phiên tòa.

-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1-Anh Nguyễn Phương Đ, sinh năm 1976. Vắng mặt.

Trú tại: Số nhà 7, Ngõ 22, Khu 5, phường T, TP. B, tỉnh Bắc Ninh.

2-Anh Đặng Hùng C, sinh năm 1978. Vắng mặt.

Trú tại: Số 33, đường N, phường N, TP. B, tỉnh Bắc Ninh.

-Người chứng kiến:

1-Anh Nguyễn Như K, sinh năm 1974. Vắng mặt.

2-Ông Nguyễn Đình L sinh năm 1955. Vắng mặt.

Cùng trú tại: Thôn Đ, xã Q, huyện V, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 01/5/2019, tại Km 22+200 đường Tỉnh lộ 295B, thuộc địa phận thôn Đạo Ngạn, xã Quang Châu, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang; Đội Cảnh sát giao thông trật tự và cơ động- Công an huyện Việt Yên đang làm nhiệm vụ tuần tra giao thông trên đường, phát hiện xe ô tô nhãn hiệu KIA Morning, màu sơn bạc, biển kiểm soát 99A- 108.24 do Nguyễn Anh V sinh năm 1977, trú quán số nhà 14, đường B, tổ 6, khu 7, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh điều khiển có biểu hiện nghi vấn nên Tổ công tác đã tiến hành ra tín hiệu dừng xe để kiểm tra hành chính, phát hiện Nguyễn Anh V có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên đã đưa V cùng vật chứng liên quan về Công an xã Quang Châu, huyện Việt Yên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Vật chứng thu giữ gồm:

- Thu tại lòng bàn tay phải của Nguyễn Anh V: 01 (một) gói giấy màu trắng, được quấn bằng chun nịt màu vàng, bên trong có 01 (một) túi ni lon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu xanh, bên trong có chứa 20 (hai mươi) viên nén hình tròn màu hồng đỏ, trên một mặt của viên nén có chữ “WY” và 01 (một) túi ni lon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng (đều nghi là ma túy tổng hợp, ma túy dạng đá).

- Thu tại hốc cánh cửa bên trái phía trước xe ô tô nhãn hiệu KIA Morning, màu sơn bạc, biển kiểm soát 99A- 108.24: 01 (một) túi ni lon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng và 01 (một) túi ni lon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu xanh, bên trong có chứa chất cục màu hồng đỏ (đều nghi là ma túy tổng hợp, ma túy dạng đá).

Tất cả số vật chứng nêu trên được niêm phong trong phong bì có ký hiệu “QT”.

Quá trình bắt quả tang, Nguyễn Anh V tự nguyện giao nộp gồm: 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, số Imel: 358809056561964; 01 ví da màu nâu, bên trong có 1.220.000 đồng; 01 giấy đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 99A- 108.24 số 010386; 01 Giấy chứng nhận kiểm định (đều là bản phô tô, chứng thực) và 01 xe ô tô nhãn hiệu KIA Morning, màu sơn bạc, biển kiểm soát 99A- 108.24.

Ngày 02/5/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện Việt Yên tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Anh V. Kết quả không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Cùng ngày 02/5/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện Việt Yên trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Bắc Giang giám định đối với vật chứng được niêm phong trong phong bì có ký hiệu “QT”.

Tại Kết luận giám định số 571/KL-KTHS ngày 03/5/2019, Phòng Kỹ thuật hình sự-Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:

“Trong 01 (một) phong bì thư có ký hiệu “QT” đã được niêm phong gửi giám định:

- Trong 01 (một) gói giấy màu trắng bên ngoài quấn dây chun nịt màu vàng:

+ Tinh thể màu trắng đựng trong một túi ni lon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ là chất ma túy Methamphetamine, có khối lượng là 5,023 gam.

+ 20 (hai mươi) viên nén hình tròn màu hồng đỏ, trên một mặt của viên đều có chữ “WY” đựng trong 01 (một) túi ni lon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu xanh đều là chất ma túy Methamphetamine, có tổng khối lượng là 2,025 gam.

- Tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) túi ni lon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ là chất ma túy Methamphetamine, có khối lượng là 0,586 gam.

- Chất cục màu hồng đỏ đựng trong 01 (một) túi ni lon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu xanh là chất ma túy Methamphetamine, có khối lượng là 0,058 gam”.

Quá trình điều tra, bị can Nguyễn Anh V khai: Nguồn gốc số ma túy thu giữ tại hộc cánh cửa bên trái phía trước xe ô tô nhãn hiệu KIA Morning, màu sơn bạc, biển kiểm soát 99A- 108.24, cụ thể như sau: Khoảng 20 giờ ngày 28/4/2019, Việt đi đến khu vực đầu cầu Đáp Cầu, thuộc địa phận phường Đáp Cầu, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh mục đích mua ma túy về sử dụng. Tại đây, Việt gặp một người đàn ông, có dáng người cao to, khoảng 45 tuổi (V không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) đang đứng ở rìa đường hỏi mua 800.000 đồng tiền ma túy tổng hợp của người đàn ông này và được người đàn ông đồng ý. V đưa tiền cho người này, người này cầm tiền rồi đưa lại cho V 01 (một) túi ni lon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng và 01 (một) túi ni lon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu xanh, bên trong có chứa chất cục màu hồng đỏ. V cầm ma túy mua được và bỏ một phần ra sử dụng, phần còn lại cất trong túi phía trước quần bên trái đang mặc. Đến ngày 29/4/2019, sau khi thuê được xe ô tô, V đã bỏ số ma túy còn lại để ở hốc cánh cửa bên trái phía trước xe ô tô biển kiểm soát 99A-108.24 để sử dụng dần.

Về nguồn gốc số ma túy thu giữ ở lòng bàn tay phải của V, V khai: Khoảng 19 giờ ngày 01/5/2019, V một mình điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 99A- 108.24 đi từ nhà đến khu vực đầu cầu Đáp Cầu, thuộc địa phận phường Đáp Cầu, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh mục đích mua ma túy về sử dụng. Đến nơi, V gặp một người đàn ông, có dáng người cao to, khoảng 45 tuổi (người đàn ông đã bán ma túy cho V ngày 28/4/2019) đang đứng ở rìa đường. V hỏi mua 1.700.000 đồng tiền ma túy tổng hợp và đưa tiền cho người này, người này cầm tiền rồi đưa lại cho V 01 (một) gói giấy màu trắng, được quấn bằng chun nịt màu vàng, bên trong có 01 (một) túi ni lon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu xanh, bên trong có chứa 20 (hai mươi) viên nén hình tròn màu hồng đỏ, trên một mặt của viên nén có chữ “WY” và 01 (một) túi ni lon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng, đều là ma túy tổng hợp. V cầm gói ma túy mua được cất vào hộc để đồ cá nhân ở giữa ghế lái và ghế phụ xe ô tô biển kiểm soát 99A- 108.24 và điều khiển xe về nhà. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày 01/5/2019, V một mình điều khiển xe ô tô trên đi về huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang đi chơi, khi đến Km 22+200, đường Tỉnh lộ 295B, thuộc địa phận thôn Đạo Ngạn, xã Quang Châu, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang thì bị Tổ công tác- Công an huyện Việt Yên ra tín hiệu dừng xe để kiểm tra hành chính, khi xuống xe V dùng tay phải cầm theo 01 gói ma túy để ở hộc để đồ cá nhân giữa ghế lái và ghế phụ đi ra khỏi xe thì bị lực lượng Công an phát hiện thu giữ. Tổ công tác tiến hành kiêm tra xe ô tô phát hiện trên hộc cánh cửa bên trái phía trước xe ô tô biển kiểm soát 99A- 108.24: 01 (một) túi ni lon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng và 01 (một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu xanh, bên trong có chứa chất cục màu hồng đỏ nên Tổ công tác tiến hành niêm phong toàn bộ vật chứng tại chỗ và đưa Việt cùng vật chứng liên quan về Công an xã Quang Châu, huyện Việt Yên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại bản Cáo trạng số 77/CT-VKSVY ngày 29/8/2019 của VKSND huyện Việt yên, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Anh V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất Ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 §iÒu 249 – BLHS.

Tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố, bị cáo thấy được tội lỗi của mình và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

§¹i diÖn ViÖn kiÓm s¸t sau khi ph©n tÝch tính chất của vụ án vµ gi÷ nguyªn quan ®iÓm truy tè cña b¶n c¸o tr¹ng, đång thêi ph©n tÝch các t×nh tiÕt t¨ng nÆng, gi¶m nhÑ tr¸ch nhiÖm h×nh sù vµ ®Ò nghÞ H§XX tuyªn bè bÞ c¸o Nguyễn Anh V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm g kho¶n 2 §iÒu 249; ®iÓm s kho¶n 1 và khoản 2 Điều 51; ĐiÒu 38 - BLHS xö ph¹t Nguyễn Anh V từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 02/5/2019.

Không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

Vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 BLTTHS.

Tịch thu tiêu hủy 7,57 gam ma túy Methamphetamine còn lại sau giám định.

Trả lại bị cáo Nguyễn Anh V 01 ví da mầu nâu, 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone và 1.220.000đồng nhưng tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án.

Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự tiến hành tố tụng vụ án theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa không ai có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là thành khẩn, phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến và các tài liệu chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập được thể hiện trong hồ sơ vụ án như biên bản phạm tội quả tang, biên bản khám xét, kết luận giám định. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ ngày 01/5/2019, tại Km 22+200, đường Tỉnh lộ 295B, thuộc địa phận thôn Đạo Ngạn, xã Quang Châu, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang; Đội Cảnh sát giao thông trật tự và cơ động- Công an huyện Việt Yên phát hiện bắt quả tang Nguyễn Anh V sinh năm 1977, trú quán số nhà 14, đường B, tổ7, khu 7, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh có hành vi tàng trữ trái phép 7,692 gam ma túy Methamphetamine, với mục đích để sử dụng. Bản cáo trạng số 77/CT- VKSVY ngày 29/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên truy tố bị cáo Nguyễn Anh V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 – Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án: trong vụ án này có một mình bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của nhà nước đối với các chất về ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Bên cạnh đó nó còn là nguyên nhân và điều kiện phát sinh các loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Vì vậy, việc xử lý bằng pháp luật hình sự là cần thiết, phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, sau khi phạm tội tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, bố bị cáo là ông Nguyễn Xuân T được nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng 3, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 – BLHS. Do đó HĐXX cần cân nhắc để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định của pháp luật là có căn cứ.

Hiện nay bị cáo đang bị tạm giam cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án theo quy định tại Điều 329 – BLTTHS.

Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp pháp luật.

Đối với Nguyễn Anh V có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; quá trình điều tra, V khai không nhớ đã sử dụng ở đâu nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý vi phạm hành chính.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho Nguyễn Anh V ngày 28/4/2019 và ngày 01/5/2019, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại khu vực đầu cầu Đáp Cầu, thuộc phường Đáp Cầu, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh nhưng không xác định được người đàn ông nào như V khai nên không có căn cứ điều tra làm rõ.

Vật chứng của vụ án:

Đối với chiếc xe ô tô biển kiểm soát 99A- 108.24; quá trình điều tra xác định anh Nguyễn Phương Đ (là bạn V) đứng tên thuê hộ chiếc xe trên của Công ty TNHH kinh doanh và dịch vụ T có địa chỉ: số 33, đường Nguyễn Văn C, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (do anh Đặng Hùng C sinh năm 1978 làm Giám đốc). Sau khi làm thủ tục thuê xong, anh Đ đã giao lại chiếc xe ô tô cho V sử dụng. Trước, trong quá trình thuê xe hộ V sử dụng, anh C, anh Đ đều không biết việc V dùng làm phương tiện phạm tội. Ngày 18/5/2019, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe ô tô trên, cùng giấy tờ có liên quan cho anh C, xét thấy là phù hợp.

Đối với các vật chứng: 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, số Imel: 358809056561964; 01 ví da màu nâu, bên trong có 1.220.000 đồng thu giữ khi bắt quả tang; quá trình điều tra xác định các tài sản này thuộc sở hữu hợp pháp của bị cáo V không không xử dụng vào việc phạm tội cần trả lại cho bị cáo, nhưng tạm giữ lại số tiền 1.220.000đồng để đảm bảo thi hành án.

Đối với số ma túy đựng trong 01 phong bì thư còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành cần được tịch thu tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự: Trong vụ án này không có ai yêu cầu gì đối với bị cáo nên HĐXX không xem xét.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Anh V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

V× c¸c lÏ trªn;

QuyÕt ®Þnh:

(1) Căn cứ điểm g khoản 2 §iÒu 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 – Bộ luật hình sự.

(2) Xö ph¹t: Nguyễn Anh V 05 (năm) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 02/5/2019.

(3) Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47- BLHS; điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106- BLTTHS.

Trả lại bị cáo Nguyễn Anh V 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, 01 ví da mầu nâu.

Trả lại bị cáo Nguyễn Anh V số tiền 1.220.000đồng (Một triệu hai trăm hai mươi ngàn đồng) nhưng tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án.

Tịch thu tiêu hủy 7,57 gam ma túy Methamphetamine còn lại sau giám định.

(Vật chứng có đặc điểm như biên bản bàn giao vật chứng giữa Cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Việt Yên).

(4) Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 – BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí. Buộc Nguyễn Anh V phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

(5) Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333, 334- BLTTHS.

Báo cho bị cáo có mặt biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án. N¬i nhËn

Cỡ chữ