vanban.org

Bản án 86/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 28/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đặng Văn B phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đặng Văn B 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ 05/06/2019. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Văn Bình - TTMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đặng Văn B phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH NINH BÌNH
Bản án số: 86/2019/HS-ST
Ngày: 28/10/2019

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N - NINH BÌNH

Thành phần HĐXX sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hà Minh Lực.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Nguyễn Văn Phiếu.

- Ông Tạ Khắc Nghĩa.

Thƣ ký ghi biên bản phiên toà: Ông Bùi Ngọc Tạo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện N.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên toà: Ông Lê Quang Đạt - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 10 năm 2019 tại Trụ Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình tiến hành mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 73/HSST ngày 13/9/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/QĐXX-HS ngày 14/10/2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đặng Văn B – sinh năm 1979.

Tên gọi khác: Không.

Nơi ở và ĐKNKTT: Thôn A, xã G, huyện N, tỉnh Ninh Bình.

Quốc tịch: Việt N; Dân tộc: Kinh;

Tôn giáo: Không

Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Trình độ học vấn: 09/12.

Con ông Đặng Văn G và bà Quách Thị C (Đã chết).

Gia đình có 07 chị em, Đặng Văn B là con thứ 07.

Vợ: Vũ Thị C – sinh năm 1984.

Con: Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2009.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 05/06/2019, chuyển tạm giam ngày 07/06/2019. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình. Bị cáo có mặt.

Ngƣời làm chứng: Trần Đình T; sinh năm 1991; Quách Văn N; sinh năm 1987; Vũ Thị C ; sinh năm 1984; Vũ Văn N; sinh năm 1953; Nguyễn Văn B; sinh năm 1973. Tất cả đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đặng Văn B là người nghiện ma túy. Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 05/06/2019, Đặng Văn B điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wivern Biển kiểm soát 35N5-1574 từ nhà ở thôn A, xã G, huyện N đến xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình để tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Khi đi đến khu vực đầu Cầu Đ thuộc địa phận thôn N, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình thì Đặng Văn B nhìn thấy một người nam giới (B không biết tên, tuổi, địa chỉ) đang đứng ở bên đường trông giống người nghiện, B đến gần người N giới hỏi “Anh ơi có hàng không” - Ý B hỏi mua Heroine. Ngưởi nam giới trả lời “Có, mua bao nhiêu đưa tiền đây” thì Đặng Văn Bình lấy 200.000 đồng đưa cho người nam giới và nói “Anh để cho em một quả hai trăm” - Ý B hỏi mua 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng, người này cầm tiền rồi đưa cho B 01 gói Heroine được gói ngoài bằng giấy màu trắng. Đặng Văn B mở ra kiểm tra xác định đúng là Heroine nên B gói lại cầm trên tay trái rồi điều khiển xe mô tô đi về, còn người nam giới cũng đi luôn. Trên đường về Đặng Văn B vào 01 cửa hàng thuốc tân dược ở xã G, huyện N mua 01 chiếc bơm kim tiêm nhựa màu trắng và 01 lọ nước cất để đi tìm nơi sử dụng Heroine. Khoảng 07 giờ cùng ngày, Đặng Văn B điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wivern Biển kiểm soát 35N5-1574 đến khu vực nghĩa trang thôn C, xã G, huyện N và dựng xe mô tô ở bên đường rồi đi bộ vào trong nghĩa trang thôn C và lấy một phần trong gói Heroine vừa mua được ra để sử dụng cho bản thân bằng hình thức chích, phần Heroine còn lại B gói lại cầm trên tay trái thì gặp Tổ công tác Công an huyện N phối hợp với Công an xã G đang làm nhiệm vụ tuần tra đi đến. Do sợ bị phát hiện cất giấu trái phép chất ma túy nên Đặng Văn B đã ném 01 gói Heroine đang cầm trên tay trái xuống đường đã bị Tổ công tác phát hiện lập biên bản thu giữ. Đặng Văn B khai nhận đó là gói Heroine vừa mua về nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Ngoài ra, Tổ công tác còn thu giữ 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wivern Biển kiểm soát 35N5-1574 và 01 chiếc bơm kim tiêm nhựa màu trắng loại 3ml (đã qua sử dụng) của Đặng Văn B.

Cân xác định khối lượng chất bột dạng cục màu trắng chứa trong 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy màu trắng thu giữ của Đặng Văn B có khối lượng 0,10 gam ký hiệu M để gửi trưng cầu giám định về khối lượng và loại chất ma túy. Tại bản kết luận giám định số 183/KLGĐ-PC09-MT ngày 06/06/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận:

“Mẫu chất bột dạng cục mầu trắng gửi giám định ký hiệu M có khối lượng là 0,1127 (không phẩy một nghìn một trăm hai mươi bảy) gam là ma túy, loại Heroine.

Heroine là chất ma túy thuộc bảng Danh mục I, có số thứ tự 09; Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/05/2018 của Chính phủ.

- Chất lỏng không màu bám dính trong bơm kim tiêm nhựa gửi giám định ký hiệu B không tìm thấy chất ma túy thường gặp”.

Hoàn lại đối tượng giám định, gồm:0,0415 (không phẩy không nghìn bốn trăm mười lăm) gam Heroine còn lại và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong ban đầu, tất cả được niêm phong trong một phong bì ghi số 183/KLGĐ-PC09-M theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như trên; Kiểm sát viên, bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát; bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 72/CT-VKSNQ-HS ngày 12 tháng 09 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố Đặng Văn B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đặng Văn B phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

- Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Đặng Văn B từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 05/06/2019.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị:

Tich thu tiêu hủy 0,0415 (không phẩy không nghìn bốn trăm mười lăm) gam Heroine còn lại thu của Đặng Văn B và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong ban đầu, tất cả được niêm phong trong một phong bì ghi số 183/KLGĐ-PC09-MT; 01 bơm kim tiêm nhựa mầu trắng loại 03ml và vỏ bao gói niêm phong, tất cả được niêm phong trong một phong bì ghi số 183/KLGĐ-PC09-MT; 01 phong bì niêm phong các vỏ gói ban đầu.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát đối với bị cáo.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Đặng Văn B và người tham gia tố tụng không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

2. Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Bản thân bị cáo là người nghiện ma túy nên bị cáo đã đi mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra; biên bản bắt người phạm tội quả tang; lời khai của những người làm chứng; vật chứng đã thu giữ trong quá trình điều tra vụ án; bản kết luận giám định số 183/KLGĐ-PC09-MT của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa đủ chứng cứ xác định:

Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 05/06/2019, Đặng Văn B điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wivern Biển kiểm soát 35N5-1574 từ nhà đến khu vực đầu Cầu Đ thuộc địa phận thôn N, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. Đặng Văn B đã lấy 200.000 đồng mua 01 gói Heroine được gói ngoài bằng giấy màu trắng của người nam giới không quen biết đang đứng ở bên đường. Sau khi mua ma túy xong, đến khoảng 07 giờ cùng ngày, Đặng Văn B điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wivern Biển kiểm soát 35N5-1574 đến khu vực nghĩa trang thôn C, xã G, huyện N rồi B đi bộ vào trong nghĩa trang và lấy một phần trong gói Heroine vừa mua được ra để sử dụng bằng hình thức chích, phần Heroine còn lại B gói lại cầm trên tay trái thì gặp Tổ công tác Công an huyện N phối hợp với Công an xã G đang làm nhiệm vụ tuần tra đi đến. B đã ném 01 gói Heroine đang cầm trên tay trái xuống đường thì bị Tổ công tác phát hện, lập biên bản thu giữ. Đặng Văn B khai nhận đó là gói Heroine vừa mua về nhằm mục đích sử dụng.

Hành vi tàng trữ 0,1127 gam ma túy, loại Heroine của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. bị cáo biết rõ tác hại của của ma túy ảnh hưởng đến sức khỏe, kinh tế và là một trong những nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm khác gây mất trật tự xã hội và ảnh hưởng đến cuộc sống bình yên của nhân dân. Nhưng vì ham muốn của bản thân, bị cáo vẫn thực hiện những việc pháp luật nghiêm cấm, bị cáo đã mua ma túy về sử dụng. Do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình.

Từ những quy định của pháp luật hình sự, Hội đồng xét xử xác định đã có đủ cơ sở pháp lý, khẳng định: Hành vi, tội danh và các khoản, điều luật áp dụng tại bản cáo trạng, bản luận tội, các chứng cứ buộc tội bị cáo như Kiểm sát viên trình bày tại phiên toà là có căn cứ pháp luật. Do đó Hội đồng xét xử kết luận hành vi mà bị cáo Đặng Văn B thực hiện đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Trước khi quyết định hình phạt đối với bị cáo Đặng Văn B, để ra bản án đúng và phù hợp với quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử cân nhắc tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Về nhân thân bị cáo: Bị cáo Đặng Văn B không có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo. Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo được giảm một phần về hình phạt, nhưng cần tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để tạo điều kiện cho bị cáo rèn luyện, cải tạo thành người có ích cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đặng Văn B vì hành vi tàng trữ Heroine của bị cáo với mục đích sử dụng, không nhằm mục đích vụ lợi.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với 0,0415 (không phẩy không nghìn bốn trăm mười lăm) gam Heroine còn lại thu của Đặng Văn B và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong ban đầu, tất cả được niêm phong trong một phong bì ghi số 183/KLGĐ-PC09-MT; 01 bơm kim tiêm nhựa mầu trắng loại 03ml và vỏ bao gói niêm phong, tất cả được niêm phong trong một phong bì ghi số 183/KLGĐ-PC09-MT; 01 phong bì niêm phong các vỏ gói ban đầu. Cần tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Wivern Biển kiểm soát 35N5-1574 thu giữ của Đặng Văn B là tài sản hợp pháp của ông Vũ Văn N sinh năm 1953 ở thôn C, xã Đ, huyện N, tỉnh Ninh Bình (Bố vợ của Đặng Văn B). Do ông N không biết việc Đặng Văn B mượn xe mô tô của mình để đi mua Heroine. Xét việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã trả chiếc xe máy trên cho ông N là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội dồng xét xử không giải quyết.

3. Các vấn đề khác: Trong vụ án này, kết quả điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ của người nam giới đã bán Heroine cho Đặng Văn B nên không có căn cứ để xử lý theo quy định của pháp luật.

4. Về án phí HSST: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Đặng Văn B phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đặng Văn B 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ 05/06/2019.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 0,0415 (không phẩy không nghìn bốn trăm mười lăm) gam Heroine còn lại và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong ban đầu, tất cả được niêm phong trong một phong bì ghi số 183/KLGĐ-PC09-MT; 01 bơm kim tiêm nhựa mầu trắng loại 03ml và vỏ bao gói niêm phong, tất cả được niêm phong trong một phong bì ghi số 183/KLGĐ-PC09-MT; 01 phong bì niêm phong các vỏ gói ban đầu.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng giữa Công an huyện N và Chi cục thi hành án dân sự huyện N)

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Đặng Văn B phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm bị cáo Đặng Văn B được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ