vanban.org

Bản án 86/2019/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 25/12/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/12/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Đức H không phải nộp 200.

Các quyết định khác của Bản án số 150/2019/HS-ST ngày 17/10/2019 của Toà án nhân dân quận LC, thành phố Hải Phòng có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Đức H không phải nộp 200.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 86/2019/HS-PT
Ngày 25-12-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thiệm

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Xuân Tuyến

Bà Nguyễn Thị Thu Thủy

- Thư ký phiên toà: Ông Lương Khánh Sơn – Thẩm tra viên Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 12 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 70/2019/TLPT-HS ngày 28 tháng 11 năm 2019 do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 150/2019/HS-ST ngày 17 tháng 10 năm 2019 của Tòa án nhân dân quận LC, thành phố Hải Phòng.

Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Đức H, sinh ngày 24 tháng 3 năm 1974 tại Hải Phòng. Nơi ĐKNKTT: Số 4/41/229 MHX, phường Dư HK, quận LC, thành phố Hải Phòng; nơi ở: Phòng 4 số 33/193 HS, phường HK, quận LC, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức T và bà Trần Thị B (đều đã chết), chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: 02 tiền án đã được xóa (Bản án số 176/HSST ngày 28/6/1991 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 02 năm tù về tội “Cướp tài sản của công dân”; Bản án số 1855/HSPT ngày 20/12/2002 Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao xử phạt 17 năm 6 tháng tù về tội “Giết người”, “Hủy hoại tài sản”; “Trộm cắp tài sản”); bị bắt, tạm giữ từ ngày 21/4/2019 đến ngày 24/4/2019 chuyển tạm giam; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 15 giờ 45 phút ngày 20/4/2019, tổ công tác thuộc Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận LC kết hợp với Công an phường HK, quận LC kiểm tra hành chính nơi ở của Nguyễn Đức H tại phòng 4 số 33 ngõ 193 Hồ Sen, phường HK, quận LC. Tại đây, H và Trần Quốc H1, sinh năm 1975; trú tại: Số 24/104 TĐT, phường TNH, quận LC đang ngồi dưới nền nhà trước mặt có 01 bộ đồ sử dụng ma túy đá. Tổ công tác đã tiến hành kiểm tra thu giữ trong túi quần phía trước bên phải H đang mặc có 01 ví giả da màu nâu bên trong có 03 túi nilon mép dán màu đỏ, đều chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy. Ngoài ra, còn thu giữ của H số tiền 200.000 đồng và 01 bộ dụng sử dụng ma túy đá, không thu giữ được gì của H1, Tiến hành khám xét khẩn cấp nởi của H còn thu giữ 01 cân điện tử bị hỏng, 15 túi nilon màu trắng kích thước 3x3cm, 01 điện thoại OPPO. Tổ công tác đã đưa H, H1 cùng vật chứng về trụ sở lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại Kết quả giám định số 163/KQGĐ (Đ6) ngày 23/4/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng: Mẫu chất bột màu trắng chứa trong 03 túi nilon thu giữ của Nguyễn Đức H là ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 8,8519 gam.

Nguyễn Đức H khai nhận: Khoảng 17 giờ ngày 19/4/2019. H gặp một người bạn xã hội tên là T1 đang ngồi uống nước một mình tại khu vực đường Hồ Sen, quận LC. Biết H sử dụng ma túy nên T1 cho H 01 túi ma túy đá để sử dụng. H mang về phòng sử dụng một ít và chia làm 3 túi nilon rồi cho vào ví giả da để vào túi quần bên phải phía trước để sử dụng dần. Khoảng 15 giờ 20 phút ngày 20/4/2019, Trần Quốc H1 đến nhà gặp H để mua đôi loa. Đến khoảng 15 giờ 45 phút khi H và H1 đang ngồi trên nền nhà nói chuyện thì bị lực lượng công an kiểm tra, bắt quả tang như trên. H không nói cho H1 biết việc cất giữ trái phép chất ma túy.

Trần Quốc H1 khai phù hợp với lời khai của Nguyễn Đức H. Trong lúc ngồi tại nhà H, khi H đi vệ sinh thì H1 tự ý sử dụng số ma túy còn lại trong bộ dụng cụ ma túy và H không biết. H1 không biết việc H cất giữ trái phép ma túy.

Tại Bản án sơ thẩm số 150/2019/HS-ST ngày 17/10/2019, Tòa án nhân dân quận LC, thành phố Hải Phòng đã quyết định:

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Đức H, xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 21/4/2019.

Ngoài ra, còn tuyên xử lý vật chứng, nghĩa vụ nộp án phí và quyền kháng cáo Bản án.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 25/10/2019, bị cáo Nguyễn Đức H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Xét kháng cáo của bị cáo trong thời hạn luật định nên được xem xét, giải quyết.

* Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên thể hiện như sau:

Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá hành vi phạm tội, tính chất, mức độ, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Nguyễn Đức H và xử phạt bị cáo 07 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có phần nghiêm khắc, bởi lẽ: Điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự, quy định lượng ma túy (Methamphetamine) từ 05 gam đến 30 gam tương ứng với mức hình phạt tù từ 05 năm đến 10 năm, trong khi đó, bị cáo chỉ tàng trữ 8,8519 gam ma túy loại Methamphetamine, nhân thân bị cáo có 2 tiền án nhưng đều đã được xóa, mặt khác, bị cáo lại thành khẩn khai báo nên mức án 7 năm 6 tháng tù (mức giữa khung hình phạt) chưa tương xứng, quá nặng so với hành vi của bị cáo. Do đó, có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo và giảm hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Đức H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn sơ thẩm, phù hợp với kết luận giám định, lời khai của những người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Khoảng 15 giờ 45 phút ngày 20/4/2019, Nguyễn Đức H có hành vi cất giữ trái phép 8,8519 gam ma túy loại Methamphetamine tại nơi ở là phòng 4 số 33/193 HS, phường HK, quận LC, thành phố Hải Phòng với mục đích sử dụng cho bản thân thì bị Cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt của bị cáo:

Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá hành vi phạm tội, tính chất, mức độ, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Nguyễn Đức H và xử phạt bị cáo 07 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có phần nghiêm khắc; bởi lẽ: Theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự, quy định lượng ma túy từ 05 gam đến 30 gam tương ứng với mức hình phạt từ 05 năm đến 10 năm. Mặt khác, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015; mặc dù, nhân thân bị cáo có 2 tiền án nhưng đều đã được xóa; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; lượng ma túy bị cáo tàng trữ là 8,8519 gam ma túy loại Methamphetamine nên việc Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 07 năm 06 tháng tù là có phần nghiêm khắc và chưa phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.

Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, mặc dù bị cáo không cung cấp thêm được các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới nhưng xét thấy mức án Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là nghiêm khắc nên để đảm bảo quyền lợi cho bị cáo cũng như đảm bảo công bằng trong việc quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ để giảm hình phạt cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Sửa bản án sơ thẩm, giảm một phần hình phạt cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đức H không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự đối với bị cáo Nguyễn Đức H: Chấp nhận kháng cáo và giảm hình phạt cho bị cáo.

2. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Đức H, xử phạt 06 (Sáu) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 21/4/2019.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Đức H không phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của Bản án số 150/2019/HS-ST ngày 17/10/2019 của Toà án nhân dân quận LC, thành phố Hải Phòng có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ