- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị T xin ly hôn với anh N"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Mộng T. Chị Lê Thị Mộng T được ly hôn với anh Liêu Quốc N.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HỆN MỎ CÀY NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BẾN TRE Bản án số: 86/2018/HNGĐ-ST Ngày: 29-10-2018 “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa chị T với anh N” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HỆN MỎ CÀY NAM, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Dân.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Châu Phương.
2. Bà Đoàn Lệ Hồng.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Ngọc Mai - T ký Tòa án nhân dân Huyện M, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện M tham gia phiên tòa: Ông Võ Văn Thành – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 10 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân Huyện M, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 218/2018/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2018 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 240/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 9 năm 2018, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Mộng T, sinh năm: 1992, địa chỉ: Ấp PL, xã AĐ, huyện M, tỉnh Bến Tre (Có mặt).
2. Bị đơn: Anh Liêu Quốc N, sinh năm: 1987, địa chỉ: Ấp PĐ, xã AĐ, huyện M, tỉnh Bến Tre (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 17 tháng 5 năm 2018, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn là chị Lê Thị Mộng T trình bày:
Chị và anh Liêu Quốc N tự nguyện chung sống với nhau có đăng ký kết hôn vào năm 2015 tại Ủy ban nhân dân xã AĐ, huyện M, tỉnh Bến Tre. Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng rất hạnh phúc. Từ năm 2016 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống và hay cãi nhau. Chị và anh N không còn sống chung với nhau từ tháng 9/2017 cho đến nay. Nhận thấy thời gian không sống chung với nhau đã lâu, tình cảm vợ chồng không còn và không thể tiếp tục chung sống với nhau nên chị xin được ly hôn với anh N.
Trong thời gian chung sống, chị và anh N có 01 con chung tên Liêu Gia H, sinh ngày 30 tháng 10 năm 2015, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Về vấn đề cấp dưỡng, trước đây trong đơn khởi kiện và bản tự khai chị yêu cầu anh N cấp dưỡng cho con mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi con đủ 18 tuổi nhưng trong quá trình giải quyết vụ án chị thay đổi yêu cầu, không yêu cầu anh N cấp dưỡng cho con.
Chị và anh N không có tài sản chung, không có nợ chung.
Do bị đơn là anh Liêu Quốc N vắng mặt tại các buổi hòa giải và phiên tòa nên không có trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và T ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Kiểm sát viên trình bày ý kiến phát biểu về nội dung và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
ư]
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng dân sự: Chị Lê Thị Mộng T có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện M giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa chị với anh Liêu Quốc N. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Bến Tre.
Anh Liêu Quốc N là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh N.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Mộng T và anh Liêu Quốc N chung sống có đăng ký kết hôn năm 2015 tại Ủy ban nhân dân xã AĐ, huyện M, tỉnh Bến Tre nên quan hệ hôn nhân của chị T và anh N được xem là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Tuy nhiên, chị T cho rằng chị và anh N mâu thuẫn do tính tình không hợp nhau và bất đồng quan điểm sống, chị và anh N không còn sống chung với nhau từ tháng 9/2017 cho đến nay, không ai quan tâm gì đến nhau, tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống với nhau nên chị xin ly hôn với anh N. Tòa án đã triệu tập anh N đến để hòa giải, tìm biện pháp hàn gắn đoàn tụ nhưng anh N không đến.
Như vậy, cho thấy tình trạng hôn nhân của chị T và anh N đã trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T để giải quyết cho chị được ly hôn với anh N.
Về con chung: Chị T và anh N có 01 con chung tên là Liêu Gia H, sinh ngày 30 tháng 10 năm 2015. Chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu H, không yêu cầu anh N cấp dưỡng cho con.
Hội đồng xét xử xét thấy, hiện tại cháu H còn nhỏ và đang sống cùng với chị T. Do đó, để đảm bảo tâm sinh lý của cháu được ổn định nên cần giao cháu H cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng. Đối với việc cấp dưỡng cho con do chị T không có yêu cầu nên không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị T khai chị và anh N không có tài sản chung, không có nợ chung nên không xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị T phải chịu 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 227, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Tờng vụ Quốc Hội;
Tuyên xử:
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Mộng T. Chị Lê Thị Mộng T được ly hôn với anh Liêu Quốc N.
Về con chung: Chị Lê Thị Mộng T và anh Liêu Quốc N có một con chung tên Liêu Gia H, sinh ngày 30 tháng 10 năm 2015.
Chị Lê Thị Mộng T được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu Liêu Gia H.
Ghi nhận chị Lê Thị Mộng T không yêu cầu anh Liêu Quốc N cấp dưỡng cho con.
Anh Liêu Quốc N được quyền thăm nom con chung, không ai được quyền cản trở anh thực hiện quyền này.
Vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án quyết định thay đổi việc cấp dưỡng cho con.
Trong trường hợp có yêu cầu của một hoặc cả hai bên hoặc của cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Lê Thị Mộng T trình bày không có tài sản chung, không có nợ chung nên không xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lê Thị Mộng T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0016576 ngày 05 tháng 6 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện M. Chị Lê Thị Mộng T đã nộp đủ án phí.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự; - UBND xã AĐ; - VKSND huyện M; - Chi cục THADS huyện M; - TAND tỉnh Bến Tre; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồng Dân |