vanban.org

Bản án 86/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Võ Quốc V. Cho anh Võ Quốc V được ly hôn chị Võ Thị Cẩm D.

Về con chung: Tiếp tục giao hai cháu Võ Ngọc Phương A, sinh ngày 16/3/2004; Võ Ngọc Lan A1, sinh ngày 02/9/2005 cho anh V nuôi. Chị D không phải cấp dưỡng nuôi con do anh V không có yêu cầu. Sau khi ly hôn, chị D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Võ Quốc V. Cho anh Võ Quốc V được ly hôn chị Võ Thị Cẩm D.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 86/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 10/5/2018
V/v tranh chấp “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Bà NGUYỄN HOÀNG XUÂN LAM

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông NGUYỄN VĂN BÌNH

2. Ông LÝ MINH HÙNG

-Thư ký phiên tòa: Bà LÊ THỊ KIM NGỌC – Thư ký tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

Ngày 10 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 40/2018/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 01 năm 2018 về việc tranh chấp “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh VÕ QUỐC V, sinh năm 1982 (Có mặt)

Địa chỉ: ấp A, xã C, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

2. Bị đơn: Chị VÕ THỊ CẨM D, sinh năm 1984 (Vắng mặt)

Địa chỉ: ấp A, xã C, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai ngày 22/01/2018 và lời khai tại Toà, nguyên đơn anh Võ Quốc V trình bày:

Do quen biết nên anh và chị D tiến đến kết hôn vào năm 2003, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã C. Vợ chồng sống hạnh phúc đến cuối năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn do có quá nhiều điểm bất đồng thường tranh cãi và anh chị đã chính thức ly thân luôn từ đó đến nay. Nay anh yêu cầu được ly hôn chị D.

Con chung có hai cháu tên Võ Ngọc Phương A, sinh ngày 16/3/2004; Võ Ngọc Lan A1, sinh ngày 02/9/2005, hiện đang sống với anh. Nay anh yêu cầu được nuôi hai con chung, không yêu cầu chị D cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung và nợ chung không tranh chấp nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Bị đơn chị Võ Thị Cẩm D đã được Toà án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải kèm giấy triệu tập theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự liên quan việc anh V khởi kiện như trên nhưng chị D vẫn không có văn bản nêu ý kiến và cố tình vắng mặt không rõ lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Võ Thị Cẩm D vắng mặt không rõ lý do mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt chị D.

Về nội dung:

[2] Về quan hệ hôn nhân: Tại phiên toà, anh V trình bày do quen biết nên anh và chị D xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2003, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã C. Sau khi cưới, anh chị chỉ sống hạnh phúc đến cuối năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn và chính thức ly thân luôn từ đó đến nay. Nguyên nhân do trong cuộc sống anh chị có quá nhiều điểm bất đồng thường xuyên tranh cãi gây mất tình cảm, không còn hạnh phúc. Nay anh cương quyết xin ly hôn chị D. Xét thấy, cho anh V được ly hôn chị D là có cơ sở. Bởi lẽ, từ khi ly thân tới nay anh chị cũng không có phương án nào để hàn gắn xây dựng tổ ấm chăm sóc con nhỏ. Ngoài ra, quá trình thụ lý vụ án, Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự cho chị D để đảm bảo quyền nêu ý kiến của chị, cũng như hoà giải để anh chị hàn gắn, đoàn tụ nhưng chị D vẫn không có văn bản trình bày ý kiến và vắng mặt không lý do. Chứng tỏ, chị cố tình từ bỏ quyền phản đối, quyền chứng minh của mình và thể hiện chị không còn quan tâm đến cuộc sống hôn nhân của vợ chồng, nên không có biện pháp nào để hàn gắn, đoàn tụ được. Do đó, cuộc sống hôn nhân của anh chị đã thật sự đổ vỡ, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Cho nên, chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh V là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Có hai cháu tên Võ Ngọc Phương A, sinh ngày 16/3/2004; Võ Ngọc Lan A1, sinh ngày 02/9/2005, hiện đang sống với anh V. Xét thấy, tiếp tục giao hai cháu cho anh V nuôi là có cơ sở để chấp nhận. Bởi lẽ, trước giờ hai cháu đã sống ổn định với anh V từ khi vợ chồng ly thân đến nay và bản thân các cháu cũng có nguyện vọng được sống với cha. Đồng thời, sau khi Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật cho chị D thì chị vẫn bỏ mặc không có văn bản ý kiến gì liên quan đến yêu cầu được nuôi con chung của anh V. Từ đó, để đảm bảo quyền lợi của con chung cũng như để tránh xáo trộn về mặt tâm sinh lý, đời sống học tập, sinh hoạt của các cháu nên tiếp tục giao con chung cho anh V nuôi là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Tại Toà, anh V không yêu cầu chị D phải cấp dưỡng nuôi con nên Toà án không đặt ra giải quyết.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Không tranh chấp nên Toà án không đặt ra giải quyết.

[6] Về án phí: Anh V phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Võ Quốc V. Cho anh Võ Quốc V được ly hôn chị Võ Thị Cẩm D.

Về con chung: Tiếp tục giao hai cháu Võ Ngọc Phương A, sinh ngày 16/3/2004; Võ Ngọc Lan A1, sinh ngày 02/9/2005 cho anh V nuôi. Chị D không phải cấp dưỡng nuôi con do anh V không có yêu cầu.

Sau khi ly hôn, chị D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung và nợ chung: Không tranh chấp nên Toà án không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Anh Võ Quốc V phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Anh đã nộp 300.000đ tạm ứng án phí theo biên lai số 08130 ngày 22/01/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C nên xem như thi hành xong.

Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt thời hạn nêu trên được tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ