vanban.org

Bản án 86/2018/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 20/06/2018 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 20/06/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Th người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Huỳnh Thị Ngọc L, Huỳnh Thị Thanh L, ông Huỳnh Tấn P, Huỳnh Thị Kim L1;

yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị V. Buộc ông Huỳnh Quốc Th, Huỳnh Thị Ngọc L, Huỳnh Thị Thanh L, ông Huỳnh Tấn P, Huỳnh Thị Kim L1 giao cho bà Huỳnh Thị V Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất"
  • Tòa quyết gì? Th người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Huỳnh Thị Ngọc L, Huỳnh Thị Thanh L, ông Huỳnh Tấn P, Huỳnh Thị Kim L1;
  • Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 86/2018/DS-PT
Ngày 20 - 6 - 2018
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất
và yêu cầu hủy giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tự

Các Thẩm phán:

Ông Phạm Việt Cường

Ông Trương Minh Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Ba - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Ngọc Thanh, Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 38/2017/TLPT-DS ngày 08 tháng 11 năm 2017 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 19/2017/DS-ST ngày 30/8/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38B/2018/QĐ-PT ngày 06 tháng 6 năm 2018, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị V, (tên gọi khác Sinh), sinh năm 1966.

Trú tại: Tổ 6, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp

:

Phan Thị Bích X –

Phan Thị Bích X; Địa chỉ 899 đường Q1, thành phố Q.

* Bị đơn: Ông Huỳnh Quốc Th, sinh năm 1957

Địa chỉ: Tổ 6, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.

Người đại diện theo ủy quyền c

18/6/2018.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Huỳnh Thị Ngọc L, sinh năm 1980.

Người đại diện theo ủy quyền c Huỳnh Thị Ngọc L:

18/6/2018.

2. Huỳnh Thị Thanh L, sinh năm 1983.

3. Ông Huỳnh Tấn P, sinh năm 1986.

Cùng trú tại: Tổ 6, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.

Người đại diện theo ủy quyền của Huỳnh Thị Thanh L, ông Huỳnh T n P: Ông Huỳnh Quốc Th (Giấy ủy quyền ngày 29/8/2017).

4. Huỳnh Thị Kim L1, sinh năm 1991.

Địa chỉ: Tổ 6, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.

5.

nhân dân thành phố Q.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Tấn H.

Địa chỉ: số 48, đường H, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.

*

:

-

Th.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Huỳnh Thị Ngọc L, Huỳnh Thị Thanh L, ông Huỳnh Tấn P, Huỳnh Thị Kim L1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Huỳnh Thị V trình bày:

Cụ Huỳnh M là bác ruột của nguyên đơn, cụ M chỉ có một người em cùng cha, cùng mẹ là cụ Huỳnh D và một người em cùng mẹ, khác cha là bà Huỳnh Thị L2, nguyên đơn không biết bà L2, bà L2 đã chết và nguyên đơn nghe nói bà L2 có một người con hiện nay ở đâu bà không biết. Cụ M không có vợ, con. Trước khi qua đời cụ M có để lại cho cha nguyên đơn là cụ Huỳnh D thửa đất số 1434, tờ bản đồ số 03, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, diện tích 1.685m2. Sau khi cụ M chết, cha của nguyên đơn trực tiếp quản lý, sử dụng thửa đất nói trên và có kê khai, đăng ký đất đai với nhà nước theo sổ mục kê số thửa 45, tờ bản đồ số 5, diện tích 1.990m2, tại trang 02, quyển số 01. Cha nguyên đơn chết năm 1993, mẹ nguyên đơn là cụ Huỳnh Thị L3 chết năm 1986 không để lại di chúc. Cha, mẹ nguyên đơn chỉ có một người con là nguyên đơn. Năm 1983, vì hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên nguyên đơn đi làm thuê ở thành phố Hồ Chí Minh, cha của nguyên đơn vẫn quản lý, sử dụng thửa đất này. Trong thời gian nguyên đơn đi làm ăn xa, bị đơn ông Huỳnh Quốc Th ở gần nhà và gọi cha của nguyên đơn là chú thúc bá trong họ, qua lại chăm sóc cha của nguyên đơn. Sau khi cha của nguyên đơn

Th đã tự ý chiếm đất và kê khai, đăng ký đất đai với

nhân dân thành phố Q và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2006. Năm 2010, bị đơn tự ý tách thửa dất thành các thửa 2614, 2615, 2616, 2617, 2618 tờ bản đồ số 03, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. Việc làm của bị đơn là xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Tuy nhiên, bị đơn cũng đã có công chăm sóc cha của nguyên đơn trong thời gian nguyên đơn không có ở nhà, cũng như có công sức trong việc giữ gìn đất. Nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc bị đơn trả lại ½ diện tích là 843m2, thuộc thửa đất số 1434, tờ bản đồ số 03 phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, nay thuộc các thửa đất 2614, 2615, 2616, 2617 và 2618 tờ bản đồ số 03 phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. Đồng thời, nguyên đơn yêu cầu Tòa án hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số hiệu BB 408615; BB 408617; BB 408981; BB 408616; BB408980 do

nhân dân thành phố Q cấp cho hộ ông Huỳnh Quốc Th. Đối với số tài sản gắn liền trên đất là cây cau do bị đơn trồng, nguyên đơn yêu cầu bị đơn đốn chặt hoặc giao số cây cau trên phần diện tích đất 843m2 cho nguyên đơn sở hữu, nguyên đơn thanh toán tiền lại cho bị đơn theo giá trị thực tế, ngoài ra nguyên đơn không còn yêu cầu gì khác.

Bị đơn ông Huỳnh Quốc Th trình bày:

Mảnh đất hiện nay ông đang quản lý, sử dụng là của gia tộc họ Huỳnh được truyền lại qua các đời con cháu. Trước đây, mảnh đất này thuộc quyền sở hữu của cụ Huỳnh M (bác của bà V), sau khi cụ M chết mảnh đất được gia tộc giao lại cho cụ Huỳnh D (cha bà V) quản lý. Cụ Huỳnh D có một người con là bà Huỳnh Thị V nhưng không sống với cụ D. Cụ D sống một mình nên hay qua lại thân thiết với gia đình cha của bị đơn là cụ Huỳnh M1. Ngày 08/7/1970 tộc họ Huỳnh lập biên bản giao quyền sử dụng cho cụ Huỳnh M, sau khi cụ M qua đời toàn thể tộc họ Huỳnh thống nhất giao nhà vườn cho cụ Huỳnh D quản lý, sử dụng trong thời gian ngắn. Năm 1983, cụ Huỳnh D già yếu, mất sức lao động, không ai chăm nom, theo nguyện vọng của cụ D tộc họ Huỳnh họp và lập Biên bản giải quyết đời sống tuổi già cho cụ Huỳnh D vào ngày 10/9/1983, nội dung biên bản thống nhất giao quyền sử dụng nhà, vườn cho ông sở hữu từ đó đến nay. Ông là người chăm sóc cụ D, khi cụ D qua đời ông là người chôn cất và cúng giỗ; ông khai thác, quản lý, sử dụng mảnh đất này và làm nghĩa vụ đóng thuế cho nhà nước. Năm 1993, khi cụ Huỳnh D chết, bà V có về nói bà là con của cụ D, thực tế thì ông không biết ai là vợ, con của cụ D. Năm 2006 ông được

nhân dân thành phố Q cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 486770, thửa đất số 1434, tờ bản đồ số 03, phường N, thành phố Q. Năm 2010 ông tách thửa đất trên thành các thửa 2614, 2615, 2616, 2617 và thửa số 2618 tờ bản đồ số 3 phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. Việc bà V đòi lại đất là không có căn cứ, ông không đồng ý trả lại đất cho bà V.

y ban nhân dân thành phố Q trình bày:

Theo Sổ mục kê thửa đất số 45, tờ bản đồ số 05, diện tích 1.990 m2, LRĐ (loại ruộng đất): T, trang 02, quyển số 01 chủ sử dụng đất ghi tên Huỳnh D, sổ đăng ký ruộng đất (mẫu 5b) thửa đất số 45, tờ bản đồ số 05, diện tích 1.990 m2, LRĐ (loại ruộng đất): T không ai đứng tên kê khai theo Chỉ thị 299/TTg. Các thửa đất: 2614; 2615; 2616; 2617; 2618 tờ bản đồ số 03, phường N, thành phố Q được biến động từ thửa đất 1434, tờ bản đồ số 03, phường N, thành phố Q. Qua kiểm tra hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tách thửa của ông Huỳnh Quốc Th là đúng trình tự, thủ tục. Tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phát sinh tranh chấp quyền sử dụng đ t. Việc yêu c u hủy gi y chứng nhận quy n sử dụng đ t đã c p là không có cơ sở.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 19/2017/DS-ST ngày 30/8/2017, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đã quyết định:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị V.

1. Buộc ông Huỳnh Quốc Th, chị Huỳnh Thị Ngọc L, chị Huỳnh Thị Thanh L, anh Huỳnh Tấn P, chị Huỳnh Thị Kim L1 phải trả lại cho bà Huỳnh Thị V diện tích 729,9m2 đất, cụ thể như sau:

1.1. Một phần đất phía Đông Bắc thửa đất số 2618 tờ bản đồ số 03, diện tích 162,6m2, tại tổ 6, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, có giới cận:

Phía Đông có 03 đoạn, đoạn thứ nhất dài 3,95m giáp thửa 2616, đoạn thứ hai dài 1,5lm giáp đường đất tự chừa, đoạn thứ ba dài 0,8m giáp thửa 2615.

Phía Tây dài 4,20m giáp đường bê tông;

Phía Bắc có 03 đoạn dài 4,94m, 5,98m và 3,91m giáp đường đất; 02 đoạn dài 12,16m và 7,76m giáp thửa đất số 1407;

Phía Nam dài 25,48m giáp phần còn lại của thửa đất số 2618. (Phần đất có kỷ hiệu B trong sơ đồ kèm theo bản án)

1.2. Thửa đất số 2614 tờ bản đồ số 03, diện tích 132m2, tại tổ 6, phương Nghĩa Lộ, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, có giới cận:

Phía Đông có 02 đoạn dài 10,29m và 15,42m giáp thửa đất số 1406;

Phía Tây dài 25,76m giáp thửa đất số 2615;

Phía Nam dài 5,3m giáp đường đất tự chừa;

Phía Bắc dài 5,21m giáp thửa đất số 1359.

1.3. Thửa đất số 2615 tờ bản đồ số 03, diện tích 185,3m2 tại tổ 6, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, có giới cận:

Phía Đông dài 25,76m giáp thửa đất số 2614;

Phía Tây có 06 đoạn dài 0,85m, 6,65m, 3,64m, 7,54m, 2,62m và 4,43m giáp thửa đất số 1407;

Phía Nam dài 9,95m giáp đường đất tự chừa.

1.4. Thửa đất số 2616 tờ bản đồ số 03, diện tích 125m2 tại tổ 6, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, có giới cận:

Phía Đông dài 5m giáp đường đất tự chừa;

Phía Tây có 02 đoạn, đoạn thứ nhất dài l,05m giáp phần còn lại của thửa đất số 2618; đoạn thứ hai dài 3,95m giáp phần đất thuộc thửa đất số 2618 ông Th, chị Ngọc L, chị Thanh L, anh P, chị L1 phải trả cho bà V tại tiểu mục 1.1, mục 1 phần Quyết định của bản án này.

Phía Nam dài 25m giáp thửa đất số 2617;

Phía Bắc có 02 đoạn, đoạn thứ nhất dài 10,92m giáp phần đất thuộc thửa đất số 2618 ông Th, chị Ngọc L, chị Thanh L, anh P, chị L1 phải trả cho bà V tại tiểu mục 1.1, mục 1 phần Quyết định của bản án này; đoạn thứ hai dài 14,08m giáp đường đất tự chừa.

1.5. Thửa đất số 2617 tờ bản đồ số 03, diện tích 125m2 tại tổ 6, phường Nghĩa' Lộ, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, có giới cận:

Phía Đông dài 5m giáp đường tự chừa;

Phía Tây dài 5m giáp thửa đất số 2618;

Phía Nam dài 25m giáp thửa đất số 2618;

Phía Bắc dài 25m giáp thửa đất số 2616.

(Có sơ đồ kèm theo bản án, sơ đồ là một bộ phận không tách rời bản án.)

2. Hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang số hiệu BB 408615; BB 408617; BB 408981; BB 408616; BB408980 do

nhân dân thành phố Q cấp cùng ngày 14/6/2010 cho hộ ông Huỳnh Quốc Th.

Bà Huỳnh Thị V, ông Huỳnh Quốc Th có nghĩa vụ liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

3. Bà Huỳnh Thị V được quyền sở hữu toàn bộ số cây cau do ông Huỳnh Quốc Th trồng trên các thửa đất số 2614, 2615, 2616, 2617 và phần đất thuộc thửa đất số 2618 ông Th, chị Ngọc L, chị Thanh L, anh P, chị L1 phải trả cho bà V tại tiểu mục 1.1, mục 1 phần Quyết định của bản án này. Bà V phải hoàn trả cho ông Th giá trị tài sản là 32.400.000 (Ba mươi hai triệu bốn trăm nghìn) đồng.

kháng cáo

C

C nên

không

quyền

M theo

không M

không

không

Th 15/10/1993, không

G

theo

đai

k

V.

,

V

.

Huỳnh Thị Ngọc L, Huỳnh Thị Thanh L, ông Huỳnh Tấn P, Huỳnh Thị Kim L1

kháng cáo

.

kháng cáo.

bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn

: Ông Huỳnh Quốc Th căn cứ vào văn ngày 10/9/1983 để xin được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Về hình thức, văn tự này chỉ có 5 người là ông Huỳnh C1, ông Huỳnh C2, ông Huỳnh S, bà Huỳnh Thị L2 và ông Huỳnh Quốc Th có tên và chữ ký tại biên bản. Lý do ông C1 viết đủ 12 người là theo yêu cầu của ông Th cho đủ nhánh tộc họ Huỳnh. Năm 1983, cụ D không có mặt tại Quảng Ngãi và cụ D không biết chữ, nội dung này được các cụ lớn tuổi tại địa phương xác nhận. Nội dung văn tự này không chuyển giao quyền sử dụng đất cho ông Th, việc giao đất cho người khác sử dụng là không phù hợp với Luật Đất đai năm 1987. Cụ D là người kê khai thửa đất, thửa đất này là của cụ D. Vợ chồng cụ D chỉ có một người con duy nhất là bà Huỳnh Thị V. Bà V khởi kiện thuộc trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện. Sau khi cụ Huỳnh Cút chết, cụ M và cụ D là người quản lý, sử dụng ổn định, lâu dài. Cụ M chết, cụ D tiếp tục quản lý và có đăng ký, kê khai. Đây là di sản của cụ D, nên việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Th là trái pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn ông Huỳnh Quốc Th trả lại 1/2 diện tích đất thuộc thửa đất trước đây có số thửa 1434, tờ bản đồ số 03, phường N, thành phố Q ban nhân dân thành phố Q cấp cho hộ ông Th.

Người

của bị đơn

kháng cáo

êu cầu khởi kiện của nguyên đơn,

:

V

1. Ông Th

10/9/1983

Th

G phù hợp với quy định tại Điều 50 Luật Đất đai năm 2003.

G

nên

Viện kiể

C. Năm 1970,

M

M

giao cho

10/9/1983 không

không

G

Th không

tr

ẩm

kháng cáo

.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Thửa đất số 1434, tờ bản đồ số 03, phường N, thành phố Q (sau đây viết tắt là thửa đất số 1434), diện tích 1.685m2

là của cụ Huỳnh Cút

. Các thửa đất số 2614, 2615, 2616, 2617 2618 tờ bản đồ số 03, phường N, thành phố Q được biến động từ thửa đất số 1434. [2] Cụ Cút không có vợ, con nên

C

cụ Huỳnh M

C) sử dụng thửa đất

C

. Cụ M cũng không có vợ, con nên sau khi cụ M chết năm 1978, cụ

D là em ruột cụ M sử dụng. Cụ D chết năm 1993, vợ cụ D là cụ Huỳnh Thị L3 chết năm 1986. [3]

là của cụ Cút

cụ Cút

cụ C. B

M

thửa đất

M.

Sau khi

M

D là em ruột cụ M

sử dụng [5]

Công văn

tỉnh Quả

-

thành phố Q

t b

05,

1.990m2

t b

1.990m2

trang 02, quy 01,

.

t b

1.990m2

không [6]

D có tên trong mục kê tại trang số 02, quy số 01

quy

G

. Sau khi

Th

Th

giao ông Th

ông Th

quyền

thửa đất số 1434

. [7]

thửa đất số 1434

C, quyền

M,

ông Th

M, D

không

pháp luật

C

M,

ông Th

C

không

thửa đất số 1434. [8]

ông Th

G

ông Th

theo 10/9/1983 nay. Ông Th

không

nhân dân thành phố Q G

cho ông Th

Điều [9]

D có tên trong mục kê

thửa đất số 1434

V Q

chứng cứ về nguồn gốc, quá trình sử dụng đất do các bên tranh chấp đưa ra

pháp luật

10/9/1983

,

1

biên

không

Th

10/9/1983. [10]

kháng cáo

ông Th

V

kháng cáo

ông Th phúc thẩm

V

quyền

317,3 m2;

Theo Bảng tính giá trị tài sản trên đất (BL số 229) thì cây cau của ông Th trồng trên các thửa đất số 2614 2615, có tổng giá trị 12.600.000đ (5.400.000đ + 7.200.000đ); Bà V phải hoàn trả cho ông Th giá trị cây cau trên các diện tích đ t được giao là 12.600.00đ; Bà V được sở hữu toàn bộ s cây cau này. [12] V

Bà V

án phí dân sự

V

án phí dân sự

pháp luật.

không

án phí dân sự

. [13] Chi phí xem xét, thẩm định tại ch 11.465.000 đồng và chi phí th m định giá tài sản 12.000.000 đồng, V phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 50

Th người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Huỳnh Thị Ngọc L, Huỳnh Thị Thanh L, ông Huỳnh Tấn P, Huỳnh Thị Kim L1;

Chấp nhận

yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị V.

1. Buộc ông Huỳnh Quốc Th, Huỳnh Thị Ngọc L, Huỳnh Thị Thanh L, ông Huỳnh Tấn P, Huỳnh Thị Kim L1 giao cho bà Huỳnh Thị V

diện tích 317,3 m2 đất, bao

:

- Thửa đất số 2614 tờ bản đồ số 03, diện tích 132m2, tại tổ 6, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, có giới cận:

Phía Đông có 02 đoạn dài 10,29m và 15,42m giáp thửa đất số 1406;

Phía Tây dài 25,76m giáp thửa đất số 2615;

Phía Nam dài 5,3m giáp đường đất tự chừa;

Phía Bắc dài 5,21m giáp thửa đất số 1359.

- Thửa đất số 2615 tờ bản đồ số 03, diện tích 185,3m2 tại tổ 6, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, có giới cận:

Phía Đông dài 25,76m giáp thửa đất số 2614;

Phía Tây có 06 đoạn dài 0,85m, 6,65m, 3,64m, 7,54m, 2,62m và 4,43m giáp thửa đất số 1407;

Phía Nam dài 9,95m giáp đường đất tự chừa.

Phía Bắc dài 4,45m giáp thửa đất số 1359.

2. Bà Huỳnh Thị V được quyền sở hữu toàn bộ số cây cau do ông Huỳnh Quốc Th trồng trên thửa đất số 2614

2615.

Bà Huỳnh T V

cho ông Th giá trị tài sản là 12.600.000 đồng.

3. Hủy các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang số hiệu BB 408980

BB 408981

ngày 14/6/2010 do y ban nhân dân thành phố Q cấp cho hộ ông Huỳnh Quốc Th.

Bà Huỳnh Thị V có nghĩa vụ liên hệ với cơ quan nhà nước có th m quyền để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

4.

ông Huỳnh Quốc Th

Huỳnh Thị Ngọc L, Huỳnh Thị Thanh L, ông Huỳnh Tấn P, Huỳnh Thị Kim L1 300.000đ án phí dân sự

th m

biên lai số 0001381 ngày 25/9/2017 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng N

5.

: Bà Huỳnh Thị V phải chịu 11.465.000 đồng chi phí xem xét tại chỗ và 12.000.000 đồng chi phí thẩm định giá tài sản

.

6.

.

Cỡ chữ