vanban.org

Bản án 851/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 30/08/2023 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc ly hôn.

Bà H được ly hôn Ông S. Quan hệ hôn nhân giữa Bà H với Ông S chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp về ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 851/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 30/08/2023
V/v tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hoàng Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Thái Thục Hiền 2. Ông Đoàn Văn Rỹ

- Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Hồng Đào - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phan Xuân Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 08 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án thụ lý số 545/2023/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 05 năm 2023 về tranh chấp Ly hôn, nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 216/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 08 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 148/2023/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 08 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà H; địa chỉ: Số A, đường B, Phường Y, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

2. Bị đơn: Ông S; địa chỉ: Số A, đường B, Phường Y, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và lời khai trong hồ sơ, nguyên đơn là Bà H trình bày: Bà và Ông S tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2018, có đăng ký kết hôn. Thời gian chung sống phát sinh mâu thuẫn, chồng nhậu nhẹt, gái gú về nhà đánh đập bà nhiều lần nên vợ chồng ly thân từ tháng 02/2023 đến nay, bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu giải quyết ly hôn. Về con chung thì có một con tên K, sinh ngày 29/1/2021 đang sống với bà; bà yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu Ông S cấp dưỡng cho con; Về tài sản chung và nợ chung thì bà không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn là Ông S đã được triệu tập nhiều lần nhưng không đến Tòa án nên không có lời khai.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng đã tuân theo pháp luật tố tụng kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận yêu cầu của Bà H về việc ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Bà H có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn. Xét thấy, bị đơn là Ông S đang cư trú tại Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Bị đơn đã được triệu tập đến phiên tòa lần 2 nhưng vắng mặt không lý do nên phiên tòa tiến hành theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.

Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 234/2018 ngày 08/11/2018 của Ủy ban nhân dân Phường Y, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh thì Bà H và Ông S có quan hệ vợ chồng. Tuy mâu thuẫn vợ chồng chỉ căn cứ vào lời khai của Bà H nhưng có cơ sở cho rằng mâu thuẫn của vợ chồng có thật, vì hiện nay vợ chồng đang sống ly thân; Ông S thì không đến Tòa án để trình bày mâu thuẫn cho thấy ông không quan tâm kết quả giải quyết; do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của Bà H.

Về việc nuôi con chung:

Căn cứ bản sao giấy khai sinh thì Bà H và Ông S có một con chung tên K, sinh ngày 29/1/2021.

Xét thấy, con dưới ba tuổi và đang sống chung với Bà H nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Bà H về việc được trực tiếp nuôi con.

Về việc cấp dưỡng cho con: Theo quy định thì người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Tuy nhiên, Bà H không yêu cầu Ông S cấp dưỡng cho con nên Hội đồng xét xử chưa giải quyết.

Về việc chia tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí Tòa án: Bà H là nguyên đơn trong vụ án tranh chấp ly hôn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc giải quyết ly hôn là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ khoản 1 Điều 56, các Điều 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc ly hôn.

Bà H được ly hôn Ông S.

Quan hệ hôn nhân giữa Bà H với Ông S chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

(Giấy chứng nhận kết hôn số 234/2018 ngày 08/11/2018 của Ủy ban nhân dân Phường Y, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật)

2. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc trực tiếp nuôi con chung:

Bà H được trực tiếp nuôi con chung tên K, sinh ngày 29/1/2021; Ông S chưa phải cấp dưỡng cho con.

Ông S có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con, không ai được cản trở.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng cho con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết.

4. Về án phí Tòa án:

- Bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng, theo biên lai thu số 0035815 ngày 19/05/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8; Bà H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bên được thi hành án dân sự, bên phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ