vanban.org

Bản án 85/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Công A và Hoàng Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. 2.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Công A 36 tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 23/12/2025. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Q 36 tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 23/12/2025. 3. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điề… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Công A - Hoàng Văn Q - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Công A và Hoàng Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. 2.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2026/HS-ST
Ngày 11 - 5 - 2026.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nông Văn Tùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phùng Thị Phương.

Bà Hoàng Thị Mùi.

- Thư ký phiên tòa: Bà La Thị Hằng - Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 3

- Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 tham gia phiên tòa: Ông Nông Văn Thiệp - Kiểm sát viên. Ngày 11 tháng 5 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 66/2026/TLST-HS ngày 31/3/2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2026/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2026 và Thông báo số 278/TB-TA ngày 29/4/2026 về việc thay đổi thời gian xét xử vụ án đối với các bị cáo:

- Nguyễn Công A; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam; Sinh ngày 14/02/1997 tại xã Đ, tỉnh Cao Bằng.

Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Xóm L - L, xã Đ, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Văn T và bà Nông Thị X; Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam tại Phân trại tạm giam T, Trại tạm giam Công an tỉnh C từ ngày 23/12/2025 đến nay. Có mặt.

- Hoàng Văn Q; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam; Sinh ngày 02/6/2001 tại xã Đ, tỉnh Cao Bằng.

Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Xóm L - L, xã Đ, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Hoàng Văn M và bà Nông Thị X1; Vợ: Hoàng Thị T1; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2022, con nhỏ sinh năm 2023. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam tại Phân trại tạm giam T, Trại tạm giam Công an tỉnh C từ ngày 23/12/2025 đến nay. Có mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Hoàng Văn M, sinh năm 1973. Nơi thường trú: Xóm L - L, xã Đ, tỉnh Cao Bằng. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 20 giờ 20 phút, ngày 23/12/2025, Tổ công tác Công an xã T chủ trì, phối hợp với Công an xã Đ, tỉnh Cao Bằng thực hiện nhiệm vụ tại địa bàn xã T phát hiện Hoàng Văn Q và Nguyễn Công A có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy. Tổ công tác đã tiến hành kiểm tra, phát hiện trong túi quần phía sau bên trái của Anh đang mặc có 01 gói ni lông màu đỏ, mở bên trong gói ni lông màu đỏ có 01 gói giấy bạc màu vàng, mở bên trong gói giấy phát hiện có chứa các cục chất bột màu trắng. Anh và Q khai gói ma túy trên là do Q chở A cùng đi mua về chia nhau sử dụng. Ngoài ra, tạm giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave Alpha, màu xám-bạc, BKS 11AA-090.61, xe đã sử dụng.

Ngày 24/12/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng vật chứng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại. Kết quả cân số chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Công A và Hoàng Văn Q có khối lượng 0,15 gam.

Tại Kết luận giám định số 619/KL-KTHS ngày 31/12/2025 của Phòng K, Công an tỉnh C kết luận “Mẫu chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Heroine (H)”.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Công A khai ngày 23/12/2025 do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Anh đã rủ Q đến xóm L, xã Đ tìm mua ma túy cùng nhau sử dụng. Lúc đến xóm L, xã Đ bảo Q đợi ở đầu làng để Anh vào trong làng tìm mua. Anh mua ma túy với một người đàn ông không quen biết với số tiền 500.000 đồng, người đàn ông đưa cho Anh 01 gói ma túy. Khi mua được ma túy Q chở A đi về đến đoạn đường liên xóm thuộc xóm N, xã T, tỉnh Cao Bằng thì bị lực lượng chức năng phát hiện bắt quả tang. Hoàng Văn Q khai nhận ngày 23/12/2025 Anh rủ Q đi mua ma túy, Anh nói có tiền nhưng không có xe. Q nhận lời và điều khiển xe mô tô của gia đình chở Anh đến xóm L, xã Đ, A bảo Q đợi ở đầu làng còn Anh đi vào làng tìm mua ma túy. 15 phút sau Anh quay ra nói đã mua được ma túy đồng thời đưa cho Q xem gói ma túy đó. Sau đó Anh cất gói ma túy vào túi quần và cả 2 đi xe về nhà thì bị lực lượng chức năng bắt quả tang. Mục đích mua ma túy về chia nhau để sử dụng cho bản thân.

Về tài sản tạm giữ xác định được: Xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave Alpha, màu xám-bạc, BKS 11AA-090.61 Quân chở A đi mua ma túy là tài sản hợp pháp của ông Hoàng Văn M - Bố bị cáo Q, ông M không có lỗi trong việc để Q sử dụng xe này thực hiện hành vi phạm tội.

Tại bản Cáo trạng số: 87/CT-VKSKV3 ngày 30/3/2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng đã truy tố Nguyễn Công A và Hoàng Văn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Hai bị cáo xác nhận Cáo trạng phản ánh đúng diễn biến hành vi phạm tội của mình, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại đối với các quyết định, hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Bị cáo A khai do có nhu cầu sử dụng ma túy nhưng không có xe nên rủ bị cáo Q lấy xe chở vào xóm L ắc tìm mua ma túy rồi chia nhau sử dụng. Toàn bộ tiền và giao dịch mua ma túy do Anh thực hiện, trên đường về nhà thì bị lực lượng chức năng bắt quả tang. Bị cáo Q xác nhận sự việc đúng như lời khai của bị cáo A tại phiên tòa, không có gì bổ sung thêm.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông M khai: Ông là bố của bị cáo Q, chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave Alpha, màu xám-bạc, BKS 11AA-090.61 là tài sản hợp pháp do ông đứng tên chủ sở hữu. Đây là phương tiện đi lại duy nhất của gia đình, việc con trai dùng xe này đi mua ma túy ông hoàn toàn không biết. Nay đề nghị Hội đồng xét xử trả lại xe cho ông.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Công A và Hoàng Văn Q mỗi người từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Về vật chứng và tài sản tạm giữ, đề nghị tịch thu tiêu hủy số Heroine thu giữ và trả lại xe cho ông Hoàng Văn M. Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu mỗi người 200.000đ. Do các bị cáo không có công việc thu nhập ổn định, lại sử dụng ma túy nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung.

Các bị cáo, người liên quan nhất trí với lời luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận, các bị cáo chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về các yếu tố cấu thành tội phạm: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với các lời khai tại Cơ quan Điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ nên có cơ sở để kết luận: Hồi 20 giờ 20 phút ngày 23/12/2025, Tổ công tác Công an xã T chủ trì, phối hợp với Công an xã Đ làm nhiệm vụ tại địa bàn xã T phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Công A và Hoàng Văn Q đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,15 gam ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân. Số ma túy thu giữ khi bị bắt, A và Q cùng đến xóm L, xã Đ mua với một người đàn ông không rõ họ tên, địa chỉ vào ngày 23/12/2025 với số tiền 500.000 đồng.

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật nhưng vì nghiện nên bất chấp thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Khi bị bắt đang tàng trữ trái phép 0,15 gam ma túy, loại Heroine, đây là tình tiết định khung được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như vậy, hành vi của các bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; các bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét về nhân thân: Các bị cáo biết rõ hành vi tàng trữ sử dụng chất ma túy trái phép là vi phạm pháp luật mà vẫn cố tình thực hiện nên là người có nhân thân xấu. Vì vậy Hội đồng xét xử thấy rằng cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, nhằm răn đe giáo dục và phòng ngừa tội phạm đang có chiều hướng gia tăng hiện nay. Xét mức án mà Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp nên được chấp nhận.

Các bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn, bị cáo A tuy là người bỏ tiền và trực tiếp mua ma túy, nhưng nếu không có phương tiện do bị cáo Q hỗ trợ cũng không đến nơi để mua ma túy được. Xét vai trò tham gia của hai bị cáo là ngang nhau, khối lượng ma túy thu giữ cũng ít nên hai bị cáo phải chịu hình phạt cao như nhau là phù hợp.

. Về vật chứng và tài sản tạm giữ: Số H thu giữ là mặt hàng Nhà nước cấm lưu hành, mảnh giấy, ni lông vừa là công cụ vừa không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave Alpha, màu xám-bạc, BKS 11AA-090.61 Quân chở A đi mua ma túy là tài sản hợp pháp của ông Hoàng Văn M - Bố bị cáo Q, ông M không có lỗi trong việc để Q sử dụng xe này thực hiện hành vi phạm tội. Do đó cần trả lại xe này cho ông M là đúng quy định của pháp luật.

. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo là người sử dụng ma túy, không có công việc thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ.

. Về nguồn gốc số ma túy thu giữ: Nguyễn Công A khai mua với một người đàn ông không rõ lai lịch tại xóm L, xã Đ, tỉnh Cao Bằng. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được đối tượng. Do đó không có căn cứ để điều tra, xử lý là đúng theo quy định của pháp luật. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, nếu có căn cứ sẽ xử lý trong vụ án khác là phù hợp. [7]. Về án phí: Các bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Công A và Hoàng Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. 2. Về hình phạt:

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Công A 36 tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 23/12/2025.

- Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Q 36 tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 23/12/2025. 3. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ghi “Số 619/KL-KTHS hoàn mẫu sau giám định vụ Nguyễn Công A và Hoàng Văn Q”.

- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ghi “01 Phong bì niêm phong ban đầu, 01 mảnh giấy, 01 mảnh ni lông thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Công A và Hoàng Văn Q ngày 23/12/2025”.

- Trả lại 01 xe mô tô biển kiểm soát 11AA - 090.61; Loại xe: hai bánh từ 50 – 175 cm3; Nhãn hiệu: HONDA; Số loại: Wave A; Màu sơn: Xám; Số máy: JA70E0844089; Số khung: RLHJA3937SY724837; Dung tích xi lanh: 109.2 cm3; Năm sản xuất: 2025; Số chỗ ngồi: 02, xe cũ đã qua sử dụng (Kèm theo 01 chìa khóa, 01 bản cà số khung số máy và phiếu trả lời xác minh xe)

Xác nhận số vật chứng trên đã được chuyển đến Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3, tỉnh Cao Bằng. 4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo Nguyễn Công A và Hoàng Văn Q mỗi người phải chịu 200.000đ, tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước. 5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Bản án phần trực tiếp liên quan đến quyền lợi của mình trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ