vanban.org

Bản án 85/2026/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của anh Phạm Đức A và chị Nguyễn Thị Tú A1.

Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Vay"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của anh Phạm Đức A và chị Nguyễn Thị Tú A1.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 – CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 85/2026/DS-ST
Ngày 13 - 02 - 2026
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Sơn Ngọc Trọng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Minh Hoàng.

Ông Trần Hoàng Giang.

- Thư ký phiên tòa: Ông Châu Sơn Ca là Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 3, tỉnh Cà Mau.

Ngày 13 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Cà Mau, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 716/2025/TLST- DS ngày 30 tháng 12 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2026/QĐXXST-DS, ngày 15 tháng 01 năm 2026, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Phạm Đức A, sinh năm 1985 (xin vắng mặt).

Chị Nguyễn Thị Tú A1, sinh năm 1992 (xin vắng mặt).

Cùng địa chỉ cư trú: Ấp A, xã S, tỉnh Cà Mau.

Bị đơn: Chị Lâm Mỹ P, sinh năm 1981 (vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã S, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 28/10/2025, các văn bản kèm theo và tại phiên tòa nguyên đơn anh Phạm Đức A và chị Nguyễn Thị Tú A1 trình bày:

Vào ngày 12/02/2025 chị Lâm Mỹ P có hỏi mượn của anh Phạm Đức A và chị Nguyễn Thị Tú A1 với số tiền là 108.000.000 đồng, khi mượn hai bên có làm giấy nhận nợ. Chị P cam kết sau 03 tháng là đến ngày 12/5/2025 sẽ hoàn trả cho lại cho anh A và chị Tú A1 với số tiền trên. Anh A và chị Tú A1 liên hệ yêu cầu trả tiền nhiều lần nhưng chị P không thực hiện và cứ hứa hẹn cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Anh A và chị Tú A1 yêu cầu Tòa án giải quyết buộc chị Lâm Mỹ P trả cho anh chị với tổng số tiền là 108.000.000 đồng và không yêu cầu tính lãi suất.

Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho chị Lâm Mỹ P đúng quy định pháp luật. Nhưng chị Lâm Mỹ P vắng mặt và không cung cấp lời khai, tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

1[1] Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp giữa anh Phạm Đức A và chị Nguyễn Thị Tú A1 với chị Lâm Mỹ P được xác định là “Hợp đồng vay tài sản” là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, chị Lâm Mỹ P có nơi cư trú tại xã S thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Cà Mau và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo lãnh thổ được quy định tại khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị Lâm Mỹ P được Tòa án triệu tập tham gia tố tụng nhiều lần, nhưng chị Lâm Mỹ P không cung cấp chứng cứ và vắng mặt không có lý do. Nay căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Lâm Mỹ P. Anh Phạm Đức A và chị Nguyễn Thị Tú A1 xin vắng mặt tham gia phiên tòa. Nay căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt là có căn cứ. [2] Về nội dung tranh chấp: Anh Phạm Đức A và chị Nguyễn Thị Tú A1 xác định giữa anh chị với chị P có thỏa thuận vay tiền cụ thể là vào ngày 12/02/2025, chị Lâm Mỹ P có vay tiền của anh A và chị Tú A1 với số tiền là 108.000.000 đồng. Quá trình vay tiền hai bên không có thỏa thuận lãi suất, có viết biên nhận nợ và cam kết sau 03 tháng là đến ngày 12/5/2025 sẽ hoàn trả. Chị Lâm Mỹ P có vay tiền của anh Phạm Đức A và chị Nguyễn Thị Tú A1 là thực tế xảy ra và để nợ quá hạn do chị P không thực hiện. Anh A và chị Tú A1 có cung cấp “Giấy kí kết trả tiền” thể hiện chị P có vay tiền của anh A và chị Tú A1. Anh A và chị Tú A1 đã nhiều lần yêu cầu chị P trả nợ nhưng chị P không thanh toán cho anh A và chị Tú A1. Trong quá trình giải quyết vụ án chị Lâm Mỹ P không có ý kiến gì về nội dung khởi kiện và chứng cứ do anh A và chị Tú A1 cung cấp được thể hiện qua “Giấy kí kết trả tiền”, chị Lâm Mỹ P cũng không có yêu cầu phản tố. Do đó chị Lâm Mỹ P phải có nghĩa vụ trả nợ cho anh Phạm Đức A và chị Nguyễn Thị Tú A1 với tổng số tiền là 108.000.000 đồng là có cơ sở. [3] Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ, nay buộc chị Lâm Mỹ P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định tại Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; nguyên đơn được nhận lại toàn bộ tiền tạm ứng án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các điều 463, 466 và 468 của Bộ luật dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

2. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của anh Phạm Đức A và chị Nguyễn Thị Tú A1. Buộc chị Lâm Mỹ P trả cho anh Phạm Đức A và chị Nguyễn Thị Tú A1 số tiền nợ là 108.000.000 đồng (một trăm lẻ tám triệu đồng).

Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

3. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:

Buộc chị Lâm Mỹ P phải chịu 5.400.000 đồng. Anh Phạm Đức A và chị Nguyễn Thị Tú A1 đã nộp tạm ứng số tiền 2.700.000 đồng (hai triệu bảy trăm nghìn đồng), tại biên lai thu tiền số 0007266 ngày 30/12/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau, nay hoàn lại toàn bộ cho anh Phạm Đức A và chị Nguyễn Thị Tú A1.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

4. Về quyền kháng cáo: Anh Phạm Đức A, chị Nguyễn Thị Tú A1 và chị Lâm Mỹ P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ