- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 85/2025/HS-ST Ngày 12 - 5 - 2025 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN- TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà: Bà Đinh Thị Phương Thúy
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hà Văn Sơ
2. Ông Cầm Văn Tổ
Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Duyến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 84/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2025/QĐXXST-HS ngày 29/4/2025 đối với bị cáo:
LÒ VĂN T. Tên gọi khác: không. Sinh ngày 26/5/2005 tại huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La.
Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi ở: Bản A, xã B, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lò Văn M, sinh năm 1977 và bà Lường Thị N, sinh năm 1973; Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt từ ngày 25/12/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại phân trại tạm giam khu vực Mai Sơn – Trại tạm giam Công an tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Hoàng Văn D, sinh năm 1980. Địa chỉ: Tổ A1, phường B1, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lò Văn T làm thuê tại cơ sở của Hoàng Văn D tại phường Chiềng Cơi, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La. Đến khoảng 11 giờ 30 phút ngày 25/12/2024, T nảy sinh ý định mua ma túy về sử dụng nên mang theo số tiền 80.000VNĐ và điều khiển xe mô tô hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 89F1-345.46 của Hoàng Văn D để đi đến khu vực bản Áng Ưng, xã Chiềng Ban, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Khi đến bản Áng Ưng, T gặp một người đàn ông không quen biết đang đi bộ ven đường. Qua trao đổi, T mua được từ người đàn ông đó 03 viên hồng phiến với giá 80.000VNĐ. T cầm gói ma túy vừa mua được trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe đi tìm nơi sử dụng thì bị tổ công tác Công an huyện Mai Sơn phát hiện bắt quả tang. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lò Văn T, thu giữ toàn bộ vật chứng liên quan.
Ngày 25/12/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn phối hợp với Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh, trích rút mẫu giám định đối với vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Lò Văn T. Kết quả: Tổng khối lượng 03 viên nén màu hồng là 0,31gam, lấy toàn bộ làm mẫu giám định, ký hiệu M.
Tại bản kết luận giám định số 141/KL-KTHS ngày 27/12/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận:
“Mẫu ký hiệu M gửi giám định là ma tuý; Loại Methamphetamine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,31gam.
Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,31gam; Loại Methamphetamine. ”
Tại bản cáo trạng số 42/CT-VKSMS ngày 10/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn đã truy tố bị cáo Lò Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, xử phạt bị cáo Lò Văn T từ 15 đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/12/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Đề nghị căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: mảnh băng dính màu đen, mảnh nilon màu hồng gói ma túy ban đầu, vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu được niêm phong theo quy định.
Trả lại cho bị cáo Lò Văn T 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, vỏ màu xanh kèm 01 sim điện thoại.
Trả cho anh Hoàng Văn D 01 xe mô tô hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 89F1-345.46, xe cũ, đã qua sử dụng.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Lò Văn T tự bào chữa: Nhất trí với nội dung bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – anh Hoàng Văn Điền trình bày ý kiến: Nhất trí với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mai Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân huyện Mai Sơn, Kiểm sát viên, thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tình tiết định tội: Trước cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lò Văn T khai nhận do bản thân nghiện chất ma túy, ngày 25/12/2024 bị cáo đã mua 03 viên hồng phiến với giá 80.000VNĐ nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân; bị cáo bị tổ công tác Công an huyện Mai Sơn phát hiện bắt quả tang. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 12 giờ 10 phút ngày 25/12/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn; kết luận giám định số 141/KL-KTHS ngày 27/12/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Sơn La, kết luận tổng khối lượng ma túy thu giữ của Lò Văn T là 0,31gam loại Methamphetamine. Từ các chứng cứ nêu trên có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Lò Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:
“1.Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c) Heroine, cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
..."
Xét tính chất vụ án: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm về hình sự, bị cáo nhận thức rõ được việc tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố tình mua trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, làm gia tăng tình trạng mua bán, sử dụng trái phép các chất ma túy, cần có mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.
Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về việc đã làm nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phần nào đối với bị cáo.
Bị cáo có giao nộp 01 giấy chứng nhận tham gia dân công hỏa tuyến của ông Lường Văn L; tuy nhiên qua xác định ông L là ông cụ của bị cáo T, đã vượt quá phạm vi ba đời nên Hội đồng xét xử nhận thấy không đảm bảo khi coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, do đó không chấp nhận
Về hình phạt bổ sung: Qua điều tra xác minh và tại phiên tòa xác định bị cáo làm nghề tự do, thu nhập không ổn định; bị cáo không có tài sản riêng gì có giá trị nên cần miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về vật chứng, xử lý vật chứng:
Đối với 0,31gam Methamphetamine đã trích rút toàn bộ làm mẫu giám định, không hoàn lại.
Đối với mảnh băng dính màu đen, mảnh nilon màu hồng gói ma túy ban đầu, vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu: Xét thấy đây là vật dùng vào việc phạm tội và vật không có giá trị sử dụng nên cần căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự để tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di dộng hiệu Iphone 11 Promax: xét thấy là tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự để trả lại cho bị cáo Lò Văn T.
Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 89F1-345.46, xe cũ, đã qua sử dụng: Xét thấy là tài sản của anh Hoàng Văn D, anh D không biết việc bị cáo sử dụng xe vào hành vi phạm tội nên cần căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự để trả chiếc xe cho anh D quản lý, sử dụng.
Về vấn đề khác:
Về nguồn gốc ma túy, bị cáo Lò Văn T khai mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực bản Áng Ưng, xã Chiềng Ban, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La; việc mua bán ma túy không có ai biết, chứng kiến. Do vậy, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn không có căn cứ để điều tra, xác minh mở rộng vụ án, cần chấp nhận.
Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Bị cáo Lò Văn T là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên thuộc trường hợp được miễn án phí hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Lò Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/12/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: mảnh băng dính màu đen, mảnh nilon màu hồng gói ma túy ban đầu, vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu được niêm phong theo quy định.
Trả lại cho bị cáo Lò Văn T 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, vỏ màu xanh kèm 01 sim điện thoại.
Trả cho anh Hoàng Văn D 01 xe mô tô hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 89F1-345.46, xe cũ, đã qua sử dụng.
(Chi tiết vật chứng theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 22/4/2025 giữa Công an huyện Mai Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mai Sơn).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Bị cáo Lò Văn T được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 12/5/2025).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - Sở tư pháp tỉnh Sơn La; - Viện KSND tỉnh Sơn La; - Viện KSND huyện Mai Sơn; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Sơn La; - Chi cục THADS huyện Mai Sơn; - Bị cáo; - Người có QLNVLQ; - Lưu: Hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Phƣơng Thúy |