vanban.org

Bản án 85/2024/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 8, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 25/04/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn S 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù t nh từ ngày 10/10/2023.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong bên ngoài ghi số 2211/23Q8, bên ngoài có chữ ký ghi tên Huỳnh Văn S và hình dấu Công an Phường 10, Qu n 8 và các chữ ký cán bộ Phạm Hoàng Kha và Giám định viên Lê Thị Hằng; Trả lại cho bà Huỳnh Thị Thanh T: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng s… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Văn S 249 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn S 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù t nh từ ngày 10/10/2023.
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2024/HS-ST
Ngày 25 - 4 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Anh Tuấn

Bà Trần Thị Ngọc Hà

- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Quốc Thái – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phan Xuân Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2024 tại tr s Tòa án nhân dân Qu n 8 Thành phố H Ch Minh xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự sơ thẩm th lý số: 74/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa v án ra xét xử số: 134/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Huỳnh Văn S; sinh năm 1979 tại Thành phố H Ch Minh; nơi cư trú: 397 Ba Đình Phường 8 Qu n 8 Thành phố H Ch Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới t nh: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn S1 (chết) và bà Trương Thị H; vợ con: Chưa có; tiền án tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ tạm giam từ ngày 10/10/2023 đến nay. (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Ông Cao K sinh năm 1967; nơi cư trú: 387/4 HP Phường M Qu n 8 Thành phố H Ch Minh. (vắng mặt)

2. Bà Huỳnh Thị Thanh T, sinh năm 1978; nơi cư trú: 397 BĐ Phường N Qu n 8 Thành phố H Ch Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong h sơ v án và diễn biến tại phiên tòa nội dung v án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 20 giờ 00 phút, ngày 10/10/2023, Tổ tuần tra Công an Phường 10, Qu n 8, Thành phố H Ch Minh tuần tra đến trước số 692 Hưng Phú, Phường 10 Qu n 8, thì phát hiện Huỳnh Văn S đang điều khiển xe gắn máy biển số 58RA-0758 có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra, Công an phát hiện trong túi áo bên trái của S đang mặc có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, S khai nh n đó là ma túy tổng hợp của S dùng để sử d ng. Công an thu giữ ma túy và đưa S về tr s Công an phường l p biên bản bắt người phạm tội quả tang. Ngoài ra, Công an còn tạm giữ của S 01 điện thoại di động hiệu Iphone và 01 xe gắn máy biển số 58RA-0758.

Tại bản Kết lu n giám định số 11352/KL-KTHS ngày 19/10/2023 Phòng kỹ thu t hình sự Công an Thành phố H Ch Minh kết lu n: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Huỳnh Văn S và hình dấu Công an Phường 10, Qu n 8 là ma túy thể rắn, có khối lượng 0 4086 gam (không phẩy bốn không tám sáu gam) loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra, Huỳnh Văn S khai nh n: Do bản thân nghiện ma túy nên vào khoảng 19 giờ 45 phút, ngày 10/10/2023, S dùng điện thoại di động gắn sim số 0903961792 gọi đến số 0906678674 gặp một nam thanh niên (không rõ lai lịch) hỏi mua 300.000 đ ng ma túy đá. Nam thanh niên đ ng ý bán và hẹn S tới trước nhà số 692 Hưng Phú Phường 10 Qu n 8 để giao nh n ma túy. Sau đó S điều khiển xe gắn máy biển số 58RA-0758 từ quán nước gần nhà đi đến điểm hẹn để mua ma túy khoảng 15 phút sau có một nam thanh niên điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) ch theo một người ph nữ (không rõ lai lịch) đến gặp và đưa cho S 01 gói nylon chứa ma túy đá S đưa 300.000 đ ng cho người ph nữ.

Mua được ma túy S cất giấu gói ma túy vào trong túi áo ph a trước bên trái đang mặc và điều khiển xe đi tìm nơi sử d ng ma túy. Khi S đi đến trước số 692 Hưng Phú, Phường 10 Qu n 8 thì bị Công an phát hiện bắt quả tang như trên.

Qua xác minh, biển số xe 58RA-0758 là biển đăng ký của xe có số máy: C50E3 10625 (không trùng với xe tạm giữ) số khung: C50YJ029702 (trùng với xe tạm giữ) do ông Nguyễn Văn T2 (sinh năm 1950 địa chỉ: 5/3 Ấp 3, phường TT Qu n 7) đứng tên đăng ký. Năm 2005 ông T2 đã bán xe gắn máy trên cho một người đàn ông tên Tèo (không rõ lai lịch).

Xác minh số máy: IP50FMG310456217 là của xe gắn máy có biển đăng ký số 76B1-022.83 do ông Huỳnh Th (sinh năm 1962 địa chỉ: Thôn C xã Đ huyện Nghĩa Hành tỉnh Quảng Ngãi) đứng tên đăng ký nhưng có số khung: VNSPCG0011S093106 không trùng với xe bị tạm giữ. Qua xác minh tại xã Đ huyện Nghĩa Hành hiện ông Th không có mặt tại địa phương đi đâu không rõ.

Huỳnh Văn S khai nh n vào đêm ngày 10/10/2023, S mượn xe gắn máy biển số 58RA-0758 của ông Cao K đi công việc. Việc S dùng xe gắn máy trên đi mua ma túy ông Khìn hoàn toàn không biết. Ông Cao K khai, vào khoảng tháng 9/2023, ông K và một nam thanh niên (không rõ lai lịch) trao đổi xe gắn máy cho nhau. Ngu n gốc xe gắn máy biển số 58RA-0758 như thế nào ông K không biết.

Bà Huỳnh Thị Thanh T khai: Vào khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 10/10/2023, Huỳnh Văn S (là c u ruột của T) mượn điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng số ID: BCG-E2944A gắn sim số 0903961792 của bà T để liên lạc công việc. S không nói cho Trúc biết là sử d ng điện thoại để liên lạc mua ma túy.

V t chứng tạm giữ trong v án:

- 01 (một) gói niêm phong bên ngoài ghi số 2211/23Q8 bên ngoài có chữ ký ghi tên Huỳnh Văn S và hình dấu Công an Phường 10, Qu n 8 và các chữ ký cán bộ Phạm Hoàng Kha và Giám định viên Lê Thị Hằng;

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng số ID: BCG-E2944A, gắn sim số 0903961792;

- 01 xe gắn máy biển số biển số: 58RA-0758 có số khung: C50YJ029702 số máy: IP50FMG310456217.

Tại bản Cáo trạng số 89/CT-VKS-Q8 ngày 21/3/2024 Viện kiểm sát nhân dân Qu n 8 Thành phố H Ch Minh truy tố bị cáo Huỳnh Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Qu n 8 Thành phố H Ch Minh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Huỳnh Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Sau khi phân t ch đánh giá t nh chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội Viện kiểm sát đề nghị Hội đ ng xét xử áp d ng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; không áp d ng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý v t chứng đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo; trả lại 01 điện thoại di động hiệu Iphone cho bà Huỳnh Thị Thanh T. Tiếp t c tạm giữ và đăng tin tìm chủ s hữu người quản lý hợp pháp của xe gắn máy gắn biển số: 58RA-0758 có số khung: C50YJ029702 số máy: IP50FMG310456217 theo quy định.

Bị cáo không có ý kiến tranh lu n; bị cáo thừa nh n hành vi phạm tội ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung v án căn cứ vào các tài liệu trong h sơ v án đã được tranh t ng tại phiên tòa Hội đ ng xét xử nh n định như sau:

Về hành vi quyết định tố t ng của Cơ quan điều tra Công an Qu n 8 Điều tra viên Viện kiểm sát nhân dân Qu n 8 Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự thủ t c quy định của Bộ lu t tố t ng hình sự. Quá trình điều tra truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng người tiến hành tố t ng. Do đó các hành vi quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nh n hành vi phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong h sơ v án xác định: Vào khoảng 20 giờ 00 phút ngày 10/10/2023 tại trước số 692 Hưng Phú, Phường 10 Qu n 8 Thành phố H Ch Minh bị cáo Huỳnh Văn S có hành vi cất giữ trái phép ma túy thể rắn, có khối lượng 0,4086 gam loại Methamphetamine m c đ ch sử d ng thì bị phát hiện bắt quả tang.

Điều 249 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) quy định về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như sau:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, ...”

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện hành vi với lỗi cố ý đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy và an toàn xã hội. Như v y Hội đ ng xét xử có căn cứ xác định hành vi của bị cáo Huỳnh Văn S đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xét t nh nghiêm trọng của tội phạm mà bị cáo đã thực hiện cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cải tạo giáo d c bị cáo tr thành người có ch có ý thức tuân theo pháp lu t và các quy tắc của cuộc sống ngăn ngừa phạm tội mới; đ ng thời phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm trong xã hội.

Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có cơ s đúng người đúng tội. Mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị áp d ng đối với bị cáo là phù hợp tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nên có căn cứ chấp nh n. Tuy nhiên quá trình điều tra truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải; bị cáo có nhân thân tốt phạm tội lần đầu nên Hội đ ng xét xử áp d ng điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.

Xét thấy theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do thu nh p không ổn định điều kiện kinh tế còn khó khăn hành vi không nhằm m c đ ch thu lợi nên Hội đ ng xét xử không áp d ng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý v t chứng:

- 01 gói niêm phong số 2211/23Q8 chứa ma túy xét đây là v t cấm tàng trữ lưu hành nên Hội đ ng xét xử căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ lu t Tố t ng hình sự tịch thu tiêu hủy.

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone tạm giữ của bị cáo qua điều tra xác định do bị cáo mượn của bà Huỳnh Thị Thanh T bà T cho bị cáo mượn điện thoại nhưng không biết bị cáo dùng làm phương tiện liên lạc mua ma túy nên Hội đ ng xét xử căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ lu t Tố t ng hình sự trả lại cho bà T.

- Xe gắn máy gắn biển số: 58RA-0758, có số khung: C50YJ029702 số máy: IP50FMG310456217 tạm giữ của bị cáo do chưa xác định được chủ s hữu người quản lý hợp pháp nên cần tiếp t c đăng tin trên phương tiện thông tin đại chúng thời hạn 01 năm tìm chủ s hữu người quản lý hợp pháp của xe nếu hết thời hạn trên không có người nh n hợp pháp thì tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với người đàn ông và người ph nữ bán ma túy cho bị cáo do không xác định được lai lịch Cơ quan điều tra không có cơ s xử lý nên Hội đ ng xét xử không xem xét trong v án này.

Về án ph hình sự sơ thẩm: Căn cứ quy định tại Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội, bị cáo phải chịu án ph hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn S 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù t nh từ ngày 10/10/2023.

- Căn cứ vào Điều 47 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); điểm a khoản 2 điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ lu t Tố t ng hình sự; các điều 221 228 Bộ lu t Dân sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong bên ngoài ghi số 2211/23Q8, bên ngoài có chữ ký ghi tên Huỳnh Văn S và hình dấu Công an Phường 10, Qu n 8 và các chữ ký cán bộ Phạm Hoàng Kha và Giám định viên Lê Thị Hằng;

Trả lại cho bà Huỳnh Thị Thanh T: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng số ID: BCG-E2944A, gắn sim số 0903961792;

Tiếp t c tạm giữ và đăng tin trên phương tiện thông tin đại chúng thời hạn 01 năm tìm chủ s hữu người quản lý hợp pháp của 01 xe gắn máy gắn biển số: 58RA-0758 có số khung: C50YJ029702 số máy: IP50FMG310456217, nếu hết thời hạn trên không có người nh n hợp pháp thì tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

(Theo Biên bản giao nh n v t chứng ngày 24/4/2024 tại Chi c c Thi hành án dân sự Qu n 8).

- Căn cứ vào các điều 135 136 của Bộ lu t Tố t ng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội.

Buộc bị cáo Huỳnh Văn S nộp 200.000 đ ng án ph hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa v liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày t nh từ ngày nh n được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp lu t.

Cỡ chữ