- Tranh chấp gì? án hình sự — "Sung A D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Sùng A D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 85/2023/HSST Ngày 21/03/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bạc Thị Liên
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nông Trung Kiên
2. Ông Vũ Văn Tám
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Châm - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Đ.
- Đại diện VKSND huyện Đ, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Đỗ Thành Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 21/03/2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đ, tỉnh Điện Biên xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 88/2023/HSST ngày 21/02/2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 87/2023/QĐXX-HS ngày 08/03/2023 đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Sùng A D .Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.
Sinh năm 1981. Tại Đ Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: B, xã H, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Dân tộc: Mông; Quốc tịch: Việt nam. Tôn giáo: Không.Nghề nghiệp: Làm ruộng. Trình độ văn hóa: 02/12. Con ông: Sùng Thào P (đã chết). Con bà: Giàng Thị D, sinh năm 1933; Vợ: Vàng Thị S, sinh năm 1984, bị cáo có 4 con, con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2005. Tiền án, tiền sự: Không: Nhân thân: Chưa bị xử phạt hành chính, chưa bị Tòa xét xử. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 30/12/2022. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
2. Người bào chữa cho bị cáo: bà Cao Thị B- Trợ giúp viên pháp lý của Trung Tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Điện Biên. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 30/12/2022, Sùng A D đi bộ từ nhà ở bản N, xã H, huyện Đ, mục đích tìm mua Heroine để sử dụng. Khi đi đến giữa bản N, xã Hẹ M, D gặp và hỏi mua được của một người phụ nữ dân tộc Mông khoảng 40 tuổi( không biết tên) 01 gói Heroine với giá 50.000đ. Mua xong, D cầm gói Heroine ở tay trái đi bộ về nhà. Hồi 14 giờ 25 phút cùng ngày khi D đang đi trên đường thuộc bản Na C, xã H, huyện Đ, tỉnh Điện Biên thì bị Tổ công tác Công an xã H, huyện Đ kiểm tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ trong lòng bàn tay trái của Dơ 01 gói nilon màu hồng, miệng gói buộc thắt nút, bên trong chứa 0,69 gam Heroine.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng ngày 30/12/2022 đã xác định: Toàn bộ số cục bột màu trắng nghi heroine có khối lượng 0,69 gam gửi toàn bộ giám định.
Tại bản kết luận giám định số 120/KL-KTHS ngày 07/01/2023 Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Sùng A D gửi giám định là chất ma túy loại Heroine. Có hoàn lại đối tượng sau giám định 0,62gam.
Tại bản cáo trạng số 30/CT-VKSĐB ngày 20/02/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên đã truy tố bị cáo Sùng A D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249/BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Đ vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38/BLHS. Xử phạt bị cáo Sùng A D từ 18 tháng đến 21 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng Điểm c khoản 1 Điều 47/BLHS năm 2015; Điểm a Khoản 2 Điều 106/BLTTHS năm 2015 về xử lý vật chứng.
Áp dụng khoản 2 Điều 136/BLTTHS và Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 về án phí, lệ phí Tòa án miễn án phí HSST cho bị cáo.
Tại bản luận cứ bào chữa: Người bào chữa cho bị cáo nhất trí quan điểm truy tố của Viện kiểm sát, quyết định xét xử của Tòa án đối với bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS là đúng người, đúng tội. Bị cáo thành khẩn khai báo nên đề nghị HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo Điểm s Khoản 1 Điều 51/BLHS cho bị cáo mức hình phạt tù thấp nhất theo mức đề nghị của VKS là phù hợp với tính chất mức độ của bị cáo. Bị cáo thuộc hộ nghèo đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí HSST cho bị cáo.
Bị cáo hoàn toàn nhất trí bản luận cứ bào chữa của Người bào chữa không có ý kiến bổ sung vào bản luận cứ.
Tại phiên tòa bị cáo một lần nữa khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã trình bày ở trên. Bị cáo hoàn toàn nhất trí với quan điểm truy tố và luận tội của VKSND huyện Đ, không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng của bị cáo: Không có ý kiến gì.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Xét hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Sùng A D là đối tượng nghiện chất ma túy. Hồi 14 giờ 25 phút ngày 30/12/2022 tại khu vực bản N, xã H, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, Sùng A D đã có hành vi cất giấu trái phép trên người 0,69gam Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân, bị cáo chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã hoàn thành và được thực hiện bằng lỗi cố ý trực tiếp. Vật chứng thu giữ của bị cáo đã được cân xác định khối lượng là 0,69 gam kết luận giám định là chất ma túy loại heroine. Từ những chứng cứ nêu trên đủ cơ sở kết luận: Hành vi tàng trữ 0,69 gam heroine trên người mục đích để sử dụng của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249/BLHS. Lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng; Kết luận giám định; Kết luận điều tra, các bản cung cũng như cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo.
C¸o tr¹ng cña VKSND huyện Đ ®· truy tè bÞ c¸o lµ ®óng ng êi, ®óng téi, ®óng ph¸p luËt. BÞ c¸o cã ®Çy đủ n¨ng lùc ®Ó chÞu tr¸ch nhiÖm h×nh sù tr íc ph¸p luËt vÒ hµnh vi ph¹m téi cña m×nh ®· g©y ra.
. XÐt tÝnh chÊt møc ®é ph¹m téi cña bÞ c¸o th× hµnh vi tàng trữ tr¸i phÐp chÊt ma túy lµ hµnh vi nguy hiÓm cho x· héi, tội phạm mà bị cáo thực hiện thuộc trường hợp nghiêm trọng lµm ¶nh h ëng ®Õn trËt tù trÞ an, an toàn x· héi. Hµnh vi ph¹m téi cña bÞ c¸o ®· x©m ph¹m ®Õn chÝnh s¸ch ®éc quyÒn qu¶n lý cña Nhµ n íc vÒ chÊt ma tuý. BÞ c¸o nhËn thøc ® îc t¸c h¹i cña ma tuý, nhËn thøc ® îc hµnh vi tàng trữ tr¸i phÐp chÊt ma tuý lµ vi ph¹m ph¸p luËt. Song vì nhu cầu của bản thân bÞ c¸o ®· bÊt chÊp vµ cè t×nh vi ph¹m. Nªn cÇn ph¶i xö lý bị cáo nghiêm minh theo quy ®Þnh cña ph¸p luËt.
. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cho thấy:
Bị cáo sinh ra và lớn lên tại huyện Đ, bản thân học hết lớp 2 bỏ học, bị cáo sử dụng ma túy từ năm 2002. Chưa có tiền án, tiền sự trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS. HĐXX xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy nên cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để tiếp tục giáo dục, cải tạo và có thời gian cai nghiện ma túy. Xét đề nghị của VKS và người bào chữa là phù hợp nên HĐXX chấp nhận.
. Ngoài hình phạt chính là phạt tù thì bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249/BLHS là phạt tiền từ 05 triệu đồng đến 500 triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. XÐt kinh tÕ bÞ c¸o khã kh¨n, bản thân lại nghiện chất ma tuý. Nªn kh«ng cã ®iÒu kiÖn ®Ó thi hµnh. Héi ®ång xÐt xö kh«ng ¸p dông h×nh ph¹t bæ sung ®èi víi bÞ c¸o.
Nguồn gốc số ma túy bị thu giữ bị cáo khai mua của một người phụ nữ dân tộc Mông khoảng 40 tuổi không biết tên, địa chỉ nên cơ quan điều không xác minh làm rõ được do vậy HĐXX không xem xét.
. Về hành vi và các Quyết định của cơ quan người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, Điều tra viên, kiểm sát viên. Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì do đó các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng là hợp pháp được chấp nhận.
. Vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 47/BLHS năm 2015; Điểm a Khoản 2 Điều 106/BLTTHS năm 2015.
Tịch thu tiêu huỷ: 0,62 gam heroine được hoàn lại sau giám định.
.Về án phí: Bị cáo là dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế khó khăn và là hộ nghèo thuộc diện miễn án phí. Căn cứ Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 về án phí lệ phí Tòa án bị cáo Sùng A D được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38/BLHS năm 2015; Điều 331, Điều 333/ Bộ luật tố tụng hình sự.
1. Tuyên bố: Bị cáo Sùng A D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
2. Xử phạt bị cáo Sùng A D 01 năm 06 tháng tù.Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ( 30/12/2022).
3. Vật chứng: Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 47/BLHS năm 2015; Điểm a Khoản 2 Điều 106/BLTTHS năm 2015. Tịch thu tiêu huỷ: 0,62 gam heroine được hoàn lại sau giám định.
(Vật chứng đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ chuyển cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ vào ngày 20/02/2023).
4. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136/BLTTHS năm 2015 và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 về án phí, lệ phí Tòa án bị cáo Sùng A D được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 21/03/2023).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Điện Biên; - VKSND Tỉnh Điện Biên; - VKS huyện Đ; - Công an huyện Đ; - Bộ phận HNVCA H Điện Biên; - Sở TP tỉnh Điện Biên; - CCTHADS huyện Đ; - Bị cáo; Người bào c; - Lưu /. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bạc Thị Liên |