- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lê Quang Tr phạm tội " Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: LÊ QUANG TR phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 85/2023/HSST Ngày: 13-7- 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Thuý
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lương Thị Thu An
Ông Phạm Xuân Đính
-Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Vi – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Bồ Đức Trọng – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 72/2023/HSST ngày 02 tháng 6 năm 2023, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2023/HSST-QĐ ngày 26/6/2023 đối với bị cáo:
LÊ QUANG TR, sinh ngày 24 tháng 11 năm 1981 tại Thanh Hoá; tên gọi khác: Không; nơi thường trú: Thôn K, xã Ng, huyện H, tỉnh Thanh Hoá; Nơi tạm trú: phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Lái xe chở hàng thuê; giới tính: Nam; trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Xuân A, sinh năm 1956 và con bà Cù Thị Th, sinh năm 1958; vợ: Mai Thị A’, sinh năm 1987; con: Có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất 2019; tiền án; tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông Phạm Hải Ph, sinh năm 1977; Địa chỉ: Thôn Tr, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình. ( có đơn xin vắng)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Mã Thị L, sinh năm 1981; Địa chỉ: ấp 3, xã M, thị xã C, tỉnh Bình Phước. ( có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
LÊ QUANG TR có Giấy phép lái xe hạng E do Sở giao thông vận tải tỉnh Bình Phước cấp ngày 04/01/2019, có giá trị đến ngày 04/01/2024. Khoảng 19 giờ ngày 05/9/2022, Tr điều khiển xe ô tô tải biển số 99C - 061.90 lưu thông trên đường Quốc lộ 14, hướng thành phố Đồng Xoài đi thị xã Chơn Thành. Khi đến Km 991 + 600 mét thuộc ấp 2, xã Nha Bích, thị xã Chơn Thành, LÊ QUANG TR điều khiển xe ô tô tải sang phần đường bên trái để vượt xe mô tô đi phía trước. Do không chú ý quan sát khi vượt xe nên không nhìn thấy xe mô tô biển số 93B1-259.62 do Phạm Hải Ph điều khiển, lưu thông trên làn đường dành cho xe ô tô và xe mô tô thuộc phần đường bên phải hướng thị xã Chơn Thành đi thành phố Đồng Xoài. Khi xe ôtô tải do Tr điều khiển lấn sang phần đường bên trái (phần đường của anh Phạm Hải Ph đang lưu thông), Tr nhìn thấy nạn nhân cách khoảng 20 mét nên không kịp tránh, để thành lốp xe sau bên trái va quẹt vào bên trái xe mô tô của anh Ph, xảy ra tai nạn giao thông. Sau tai nạn giao thông, anh Phạm Hải Ph được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Phước, sau đó chuyển đến Bệnh viện Chợ Rẫy - Thành phố Hồ Chí Minh điều trị.- Kết quả kiểm tra tải trọng xe ô tô, lúc 22 giờ 37 phút ngày 01 tháng 02 năm 2023, xác định: trọng lượng xe và hàng là 38.460 kg. So với khối lượng bản thân của xe là 8905 kg thì khối lượng hàng hoá trên xe là 38.460 kg - 8905 kg = 29.555 kg. So với khối lượng hàng hoá cho phép chuyên chở là 14.900 kg thì xe quá tải (29.555 kg - 14.900 kg)/14.900 x 100% = 98,35 %.
Kết luận giám định pháp y về thương tích số 406 ngày 14/10/2022 của Trung tâm Pháp y tỉnh Thái Bình, kết luận:
Dấu hiệu chính qua giám định: Đa chấn thương do tai nạn giao thông.
+ Chấn thương sọ não: Vỡ lún xương trán trái, vỡ xương thái dương phải, tụ máu ngoài màng cứng trán trái và thái dương phải, dập não, xuất huyết thuỳ trán, thái dương chẩm trái.
+ Chấn thương mắt: Thị lực mắt trái sáng tối âm tính, vỡ thành ngoài hốc mắt trái, đứt lệ quản.
+ Chấn thương hàm mặt: Gãy cung gò má trái.
+ Chấn thương tai mũi họng: Gãy vách ngăn mũi.
+ Rách da và tổ chức dưới da.
Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là: 71% (Bút lục 103-105).
Kết luận định giá tài sản số 18 ngày 06/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã Chơn Thành, kết luận: Giá trị thiệt hại của xe mô tô biển số 93B1-259.62 tại thời điểm xảy ra tai nạn giao thông là 3.500.000 đồng.(Bút lục 108-109).
Kết quả kiểm tra nồng độ cồn đối với Phạm Hải Ph, vào lúc 20 giờ 32 phút ngày 05/9/2022 là 0,996 mg/1 lít khí thở (có sử dụng chất có nồng độ cồn).
- Kết quả kiểm tra nồng độ cồn đối với LÊ QUANG TR, vào lúc 22 giờ 09 phút ngày 05/9/2022 là 0,000 mg/1 lít khí thở (không sử dụng chất có nồng độ cồn).
- Kết quả xét nghiệm chất ma tuý đối với LÊ QUANG TR, vào lúc 23 giờ 00 phút ngày 05/9/2022: Âm tính (không sử dụng chất ma tuý).
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 05 tháng 9 năm 2022 xác định dấu vết cơ bản dẫn đến vụ tai nạn giao thông như sau:
Hiện trường nơi xảy ra tai nạn giao thông tại Km 991 + 600 mét đường Quốc lộ 14, thuộc ấp 2, xã Nha Bích, thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước. Hướng thành phố Đồng Xoài đi thị xã Chơn Thành, đường lên dốc và cong về bên phải. Mặt đường trải nhựa bằng phẳng rộng 11,2 mét, có vạch sơn màu vàng liền nét kẻ giữa đường phân chia thành hai phần đường cho xe lưu thông hai chiều. Nơi xảy ra tai nạn giao thông thuộc phần đường bên trái hướng thành phố Đồng Xoài đi thị xã Chơn Thành, có hai làn đường gồm: Làn đường sát vạch sơn kẻ giữa đường dành cho xe ô tô và xe mô tô rộng 3,6 mét, làn đường sát lề đường dành cho xe thô sơ rộng 02 mét. Có vạch sơn liền nét màu trắng phân chia hai làn đường. Hai bên đường có phần đất đỏ bằng phẳng rộng 2,5 mét. Nơi xảy ra tai nạn giao thông có đèn chiếu sáng đường đặt phía ngoài lề đường bên phải hướng thành phố Đồng Xoài đi thị xã Chơn Thành, không có đường giao nhau, không có đèn tín hiệu giao thông. Phía trước hiện trường, hướng thành phố Đồng Xoài đi thị xã Chơn Thành, có đặt 04 biển báo phía ngoài mép lề đường bên phải, gồm: Cách hiện trường 300 mét là biển báo nguy hiểm, chỗ ngoặt nguy hiểm liên tiếp; cách hiện trường 250 mét là biển báo nguy hiểm, giao nhau với đường không ưu tiên; cách hiện trường 100 mét là biển báo, hết hạn chế tốc độ tối đa 60 km/h; cách hiện trường 50 mét là biển báo nguy hiểm, giao nhau với đường không ưu tiên.
Sau tai nạn giao thông, xe ô tô tải biển số 99C-061.90, xe mô tô biển số 93B1-259.62 và các dấu vết để lại ở hiện trường như sau:
- Xe ô tô tải biển số 99C - 061.90 sau tai nạn giao thông, đỗ trên phần đường bên phải hướng thành phố Đồng Xoài đi thị xã Chơn Thành. Đầu xe quay hướng thị xã Chơn Thành, lệch hướng lề đường bên phải; đuôi xe quay hướng thành phố Đồng Xoài, lệch hướng lề đường bên trái. Bánh xe trước bên trái đè lên vạch sơn kẻ giữa đường, bánh xe sau bên phải trên phần đường bên trái. Tâm trục bánh xe trước bên trái cách mép lề đường bên trái 5,5 mét, tâm trục bánh xe sau bên trái cách mép lề đường bên trái 4,7 mét.
- Xe ô tô tải biển số 99C - 061.90 để lại 02 vết phanh đôi trên làn đường dành cho xe ô tô và xe mô tô thuộc phần đường bên trái, hướng thành phố Đồng Xoài đi thị xã Chơn Thành.
+ Vết phanh đôi thứ nhất của bánh xe sau bên phải dài 12,3 mét. Điểm đầu vết phanh cách mép lề đường bên trái 4,9 mét, điểm cuối vết phanh cách mép lề đường bên trái 5,3 mét và cách tâm trục bánh xe sau bên phải ô tô tải 07 mét.
+ Vết phanh đôi thứ hai của bánh xe sau bên trái dài 11,7 mét. Điểm đầu vết phanh cách mép lề đường bên trái 3,1 mét, điểm cuối vết phanh cách mép lề đường bên trái 3,6 mét và cách tâm trục bánh sau bên trái ô tô tải 6,1 mét.
- Xe mô tô biển số 93B1-259.62 sau tai nạn giao thông ngã đỗ về bên phải, đè lên mép lề đường bên phải hướng thị xã Chơn Thành đi thành phố Đồng Xoài. Đầu xe quay hướng thị xã Chơn Thành, lệch hướng lề đường bên trái; đuôi xe quay hướng thành phố Đồng Xoài, lệch hướng lề đường bên phải. Tâm trục bánh xe sau cách điểm đầu vết phanh thứ 2 của xe ô tô tải 3,8 mét.
- Xe mô tô để lại vết cày không liên tục dài 4,6 mét, chiều hướng thị xã Chơn Thành đi thành phố Đồng Xoài. Điểm đầu vết cày trên làn đường dành cho xe ô tô và xe mô tô thuộc phần đường bên phải hướng thị xã Chơn Thành đi thành phố Đồng Xoài, cách mép lề đường bên phải 2,6 mét. Điểm cuối vết cày trùng với đầu trục gác chân trước bên phải xe mô tô.
Dấu vết trên xe mô tô biển số 93B1-259.62:
- Núm kim loại đầu tay lái bên trái do tác động ngoại lực gây lệch so với vị trí ban đầu, chiều hướng từ trước ra sau.
- Yếm chắn gió bên trái do tác động với lốp xe ô tô tải gây trầy xước, kích thước: 0,08 mét x 0,65 mét, chiều hướng từ trước ra sau. Tại vết trầy xước, bám dính cao su màu đen, cao cách mặt đường 0,75 mét.
- Vỏ kim loại động cơ phía bên trái do tác động với lốp xe ô tô tải gây trầy xước và bám dính cao su màu đen, kích thước: 0,1 mét x 0,12 mét, cao cách mặt đường 0,32 mét, chiều hướng từ trước ra sau.
- Gác chân phía trước bên trái do tác động với lốp xe ô tô tải gây cong, chiều hướng từ trước ra sau, bám dính cao su màu đen.
Dấu vết trên phương tiện xe ô tô tải biển số 99C-061.90:
- Thành ngoài lốp xe sau bên trái do tác động ngoại lực gây nhiều vết trượt xước cao su, không rõ hình.
- Bên trái thùng xe tại vị trí bản lề của bửng sau cùng bám dính dấu vết máu, kích thước: 0,05 mét x 0,33 mét, cao cách mặt đường 1,36 mét.
Về trách nhiệm dân sự: Sau tai nạn, bị cáo Thưởng đã bồi thường cho bị hại Phạm Hải Ph số tiền 187.000.000 đồng, gồm chi phí sửa chữa xe mô tô bị hư hỏng, chi phí điều trị thương tích và chi phí tổn hại sức khoẻ. Bị hại Phong không yêu cầu gì thêm.
Bản cáo trạng số 79/CT- VKSCT, ngày 30/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước đã truy tố bị cáo LÊ QUANG TR về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại xin bãi nại cho bị cáo. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b,s khoản 1,2 Điều 51; Điều 50, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo mức án từ 01( một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo và áp dụng thời gian thử thách theo quy định của pháp luật;
Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước đã truy tố và không có ý kiến gì khác.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức hành vi của mình sai trái và rất hối hận. Bị cáo kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Người bị hại có đơn xin xử vắng mặt. Xét thấy sự vắng mặt của bị hại không trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ vào khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.
Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai tại cơ quan Điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án cũng như qua phần xét hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Ngày 05/9/2022, LÊ QUANG TR điều khiển xe ô tô tải biển số 99C - 061.90 lưu thông trên đường Quốc lộ 14, hướng thành phố Đồng Xoài đi thị xã Chơn Thành. Khi đến Km991 + 600 mét thuộc ấp 2, xã Nha Bích, thị xã Chơn Thành, do không chấp hành báo hiệu đường bộ (vạch kẻ đường), điều khiển xe chạy đè lên vạch sơn liền nét kẻ giữa đường, chạy sang phần đường bên trái để vượt xe mô tô đi phía trước cùng chiều, chạy không đúng phần đường, vượt xe khi có xe mô tô lưu thông chiều ngược lại, để bánh xe sau bên trái ô tô tải va quẹt vào bên trái xe mô tô biển số 93B1
- 259.62 do anh Phạm Hải Ph điều khiển lưu thông hướng thị xã Chơn Thành đi thành phố Đồng Xoài, xảy ra tai nạn giao thông. Hành vi của LÊ QUANG TR vi phạm khoản 1 Điều 9 và khoản 2 Điều 14 Luật giao thông đường bộ gây tai nạn giao thông, làm anh Phạm Hải Ph bị thương tích, với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 71%. Do đó, hành vi của LÊ QUANG TR đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Do đó có đủ cơ sở kết luận Cáo trạng số 79/CTr-VKS, ngày 30/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm sự an toàn, hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ, bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự; có đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi nên phải chịu trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo là lao động chính của gia đình, có con còn nhỏ, bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo và bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xét thấy, bị cáo có nhiều tính tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú ổn định, nên không cần thiết phải cách li bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt ít nghiêm khắc hơn để giáo dục bị cáo, cho bị cáo có cơ hội, cải tạo, sữa chữa sai lầm trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Về trách nhiệm dân sự: Sau tai nạn, bị cáo Tr đã bồi thường cho bị hại Phạm Hải Ph số tiền 187.000.000 đồng, gồm chi phí sửa chữa xe mô tô bị hư hỏng, chi phí điều trị thương tích và chi phí tổn hại sức khoẻ. Bị hại Phong không yêu cầu gì thêm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra đã thu giữ xe ô tô tải biển số 99C - 061.90 của bị can LÊ QUANG TR và xe mô tô biển số 93B1 - 259.62 do bà Mã Thị L đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Các phương tiện trên có đăng ký hợp pháp, không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án nên Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu.
Đối với Giấy chứng nhận kiểm định số EA 0817426 do Chi nhánh đăng kiểm xe cơ giới 61.03S thuộc Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới tỉnh Bình Dương cấp ngày 19/5/2022, Cơ quan điều tra chuyển Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bình Phước để đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đối với LÊ QUANG TR về hành vi “không làm thủ tục đăng ký sang tên xe” theo thẩm quyền.
Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 015712, Cơ quan điều tra chuyển Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bình Phước để đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đối với anh Phạm Hải Ph, chị Mã Thị L theo thẩm quyền.
Đối với Giấy phép lái xe hạng E số 380136028399 do Sở giao thông vận tải tỉnh Bình Phước cấp ngày 04/01/2019 tạm giữ của LÊ QUANG TR cần trả lại cho Tr.
Đối với bị hại Phạm Hải Ph không có Giấy phép lái xe mô tô, trong hơi thở có nồng độ cồn 0,996 mg/1 lít khí thở, điều khiển xe mô tô biển số 93B1 - 259.62 của chị Mã Thị L vào ngày 05/9/2022, đã vi phạm khoản 8 và khoản 9 Điều 8 Luật giao thông đường bộ; điểm e khoản 8 Điều 6 và điểm a khoản 5 Điều 21 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt là lỗi vi phạm hành chính, không phải nguyên nhân chính, trực tiếp gây tai nạn giao thông. Cơ quan điều tra chuyển hồ sơ đến Phòng Cảnh sát giao thông - Công an tỉnh Bình Phước đề nghị xử phạt vi phạm hành chính.
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 260; Điểm b,s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 50, Điều 65 Bộ luật hình sự.
1. Về tội danh: LÊ QUANG TR phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
2. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo LÊ QUANG TR 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo LÊ QUANG TR cho Ủy ban nhân dân phường Phú Tân, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương quản lý, giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bán án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bán án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Trả lại cho bị cáo LÊ QUANG TR Giấy phép lái xe hạng E số 380136028399 do Sở giao thông vận tải tỉnh Bình Phước cấp ngày 04/01/2019 mang tên LÊ QUANG TR.
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Phước; - VKSND tỉnh Bình Phước; - VKSND thị xã Chơn Thành; - CCTHADS thị xã Chơn Thành; - CA thị xã Chơn Thành; - UBND nơi cư trú của bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đã ký Dương Thị Thuý |