vanban.org

Bản án 85/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 30/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Việt A phạm tội “Mua bán trái

phép chất ma túy”. Về hình phạt: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "mua bán trái phép chất ma tuý - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Việt A phạm tội “Mua bán trái
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2023/HS-ST
Ngày 30/5/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hà Văn Tôn;

2. Ông Dương Văn Toàn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Bích Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân thành

phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên

tham gia phiên toà: Bà Lê Phương Thuỳ- Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố

Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 65/2023/TLST-HS, ngày 21 tháng 4 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2023/QĐXXST- HS ngày 16 tháng 5 năm 2023, đối với bị cáo:

Nguyễn Việt A; Tên gọi khác: Không. Sinh năm:1989; Nơi cư trú: Xóm Xuân Hà 3, xã Thành Công, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12. Con ông: Nguyễn Văn Đ (đã chết); con bà: Ngô Thị T; Bị cáo có 03 anh em, Việt A là con thứ ba; Vợ, con: Chưa có.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Năm 2020, bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Phổ Yên,

tỉnh Thái Nguyên áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 22 tháng, tại Quyết định số 26/2020/QĐ-TA ngày 07/7/2020 (chấp hành xong ngày 13/5/2022).

Biện pháp ngăn chặn: Nguyễn Việt A bị bắt tạm giữ từ ngày 05/01/2023,

đến ngày 14/01/2023 chuyển tạm giam đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt tại phiên toà).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Trọng Q, sinh năm 1987; (Có mặt tại phiên toà).

Địa chỉ: xóm Xuân Hà 3, xã Thành Công, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên

* Người chứng kiến:

1. Ông Nguyễn Duy D, sinh năm 1979; Trú tại: xóm An Thịnh, xã Thành

Công, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên

2. Anh Nguyễn Văn X, sinh năm 1983; Trú tại: xóm Xuân Hà 3, xã Thành

Công, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

(Đều vắng mặt tại phiên toà).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 08 giờ 15 phút ngày 05/01/2023, tổ công tác của Đội Cảnh sát giao

thông, trật tự Công an thành phố Phổ Yên phối hợp với Công an xã Thành Công, thành phố Phổ Yên làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát trên tuyến đường liên xóm thuộc xóm Xuân Hà 3, xã Thành Công, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, thì phát hiện nam thanh niên điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, BKS 20H5 - 6672, không đội mũ bảo hiểm có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác yêu cầu dừng xe để kiểm tra giấy tờ của người và phương tiện. Nam thanh niên khai nhận tên là Nguyễn Việt A, sinh năm 1989; trú tại xóm Xuân hà 3, xã Thành Công, Tp Phổ Yên, là người nghiện ma túy và đang trên đường đi uống Methadol tại Trung tâm Y tế thành phố Phổ Yên. Quá trình kiểm tra, Việt A khai nhận đang cất giấu ma túy trong người và tự nguyện giao nộp cho tổ công tác gồm: 02 (hai) gói giấy màu vàng, bên trong mỗi gói giấy đều chứa chất rắn màu trắng đục lấy từ túi áo khoác bên trái đang mặc; 02 (hai) gói ni lông màu đen, bên trong có 01 (túi) ni lông có chứa 02 (hai) gói giấy màu bạc đều chứa chất rắn màu trắng đục và 01 (túi) ni lông bên trong có chứa 03 (ba) gói giấy màu vàng đều chứa chất rắn màu trắng đục; 01 (một) gói giấy màu bạc bên trong chứa 01 (một) viên nén màu hồng lấy từ túi quần bên phải đang mặc. Theo Việt A khai toàn bộ số chất rắn màu trắng đục là ma túy loại Heroine và viên nén màu hồng là ma túy “Ngựa” của Việt A do Việt A mua về để sử dụng và chia nhỏ bán cho các đối tượng khác để kiếm lời. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Việt A, niêm phong vật chứng thu giữ trong phong bì màu trắng dán kín ký hiệu M1 để giải quyết theo quy định.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phổ Yên đã tiến

hành khám xét nơi ở của Nguyễn Việt A tại xóm Xuân Hà 3, xã Thành Công, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, phát hiện 01 (một) dao lam bằng kim loại, đã qua sử dụng để trên mặt ghế trong phòng ngủ, Cơ quan điều tra đã thu giữ, niêm phòng trong phong bì ký hiệu T theo quy định.

Hồi 19 giờ 30 phút ngày 05/01/2023, Công an thành phố Phổ Yên phối hợp

với Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Thái Nguyên tiến hành mở niêm phong trong phong bì ký hiệu M1, bên trong có 02 (hai) gói giấy màu vàng, bên trong mỗi gói giấy đều chứa chất rắn màu trắng đục lấy từ túi áo khoác bên trái đang mặc; 02 (hai) gói ni lông màu đen, bên trong có 01 (túi) ni lông có chứa 02 (hai) gói giấy màu bạc đều chứa chất rắn màu trắng đục và 01 (túi) ni lông bên trong có chứa 03 (ba) gói giấy màu vàng đều chứa chất rắn màu trắng đục; 01 (một) gói giấy màu bạc bên trong chứa 01 (một) viên nén màu hồng. Sử dụng cần điện tử tại phòng PC09 Công an tỉnh Thái Nguyên cân tổng khối lượng số chất rắn màu trắng đục được 0,416 gam (đã trừ bì), lấy tất cả số chất rắn mầu trắng đục nêu trên cho vào phong bì màu trắng dán kín niêm phong ký hiệu K1. Mẫu giám định trong phong bì ký hiệu K1 để gửi giám định. Sử dụng cân điện tử cân khối lượng viên nén màu hồng được 0,093 gam (đã trừ bì), lấy viên nén màu hồng nêu trên cho vào phong bì màu trắng dán kín ký hiệu K2 . Mẫu giám định K2 được gửi giám định. Vỏ bao mẫu của phong bì ký hiệu M1 cho vào phong bì trắng ký hiệu L để lưu kho.

Ngày 05/01/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Phổ Yên,

tỉnh Thái Nguyên ra Quyết định trưng cầu giám định số 58/QĐ - CSĐT đối với mẫu niêm phong ký hiệu K1 và K2 thu của Nguyễn Việt A, yêu cầu giám định để xác định các chất thu giữ có phải là ma túy không? Loại, chất ma túy? khối lượng của mẫu giám định là bao nhiêu?

Tại bản Kết luận giám định số: 207/KL -KTHS ngày 13/01/2023 của Phòng

Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên, kết luận:

Chất rắn màu trắng đục trong bì niêm phong ký hiệu K1 gửi giám định là chất

ma túy, loại Heroine (heroin), khối lượng của mẫu giám định là: 0,416 gam.

Viên nén màu hồng trong phong bì niêm phong ký hiệu K2 gửi giám định là

chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu giám định là:0,093 gam.

Quá trình điều tra, Nguyễn Việt A khai nhận: Việt A là đối tượng nghiện

ma túy nhiều năm, hiện đang điều trị nghiện bằng thuốc Methadone, quá trình điều trị nghiện vẫn thường sử dụng ma túy. Khoảng 07 giờ sáng ngày 05/01/2023, Việt A điều khiển xe mô tô Honda Wave màu xanh, BKS 20H5-6672 đi từ nhà đến khu vực tổ dân phố Kim Tỉnh, phường Trung Thành, thành phố Phổ Yên để mua ma túy về bán kiếm lời. Khi đến nơi, Việt A gặp một người nam giới ở khu nghĩa trang, do trước đó Việt A đã gặp người này một vài lần nhưng không biết họ tên, địa chỉ cụ thể và nhờ người này mua hộ 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng) ma túy loại Heroine. Sau đó, Việt A đưa tiền cho người nam giới, người nam giới đồng ý rồi cầm tiền của Việt A và bảo Việt A đứng đợi. Khoảng 15 phút sau người nam giới quay lại đưa cho Việt A 07 (bảy) gói giấy, bên trong mỗi gói đều chứa chất rắn màu trắng đục là ma túy Heroine, rồi người nam giới này bỏ đi. Việt A cho 02 (hai) gói ma túy vào túi áo khoác bên trái đang mặc rồi nhặt 01 (một) túi ni lông màu đen ở đường rồi xé nhỏ ra, cho 02 (hai) gói giấy có chứa ma túy Heroine vào 01 (một) gói ni lông màu đen; còn 03 (ba) gói giấy có chứa ma túy Heroine và 01 (một) gói giấy có chứa 01 (một) viên nén màu hồng là ma túy “ngựa” của Việt A mang đi từ trước, Việt A cho vào 01 (một) gói ni lông màu đen còn lại. Sau đó, Việt A cho 02 (hai) gói ni lông màu đen có chứa ma túy vào túi quần bên phải đang mặc rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà, khi đi đến khu vực xóm Xuân Hà 3, xã Thành Công, thành phố Phổ Yên thì bị lực lượng Công an kiểm tra, Việt A đã tự nguyện giao nộp toàn bộ số ma túy vừa mua được cho Cơ quan Công an. Mục đích Việt A mua ma túy là để bán lại cho các đối tượng nghiện khác kiếm lời.

Vật chứng của vụ án: 02 (hai) phong bì niêm phong ký hiệu K1 và K2, bên

trong chứa số ma túy hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu L, bên trong chứa vỏ bao mẫu lưu kho; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T, bên trong chứa 01 (một) dao lam bằng kim loại, đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô Honda Wave màu xanh, BKS 20H5-6672, đã qua sử dụng. Toàn bộ số vật chứng này được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên chờ xử lý khi xét xử vụ án.

Với nội dung nêu trên, tại bản cáo trạng số: 80/CT-VKSPY, ngày

20/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Nguyễn Việt A về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:

- Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng

đã thể hiện.

Bị cáo chưa có tiền án nhưng có 01 tiền sự năm 2020, bị Toà án nhân dân thị

xã (nay là thành phố) Phổ Yên áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 22 tháng. Bị cáo đã chấp hành xong Quyết định. Tuy nhiên, đến nay chưa được xoá vi phạm.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Việt A được hưởng

01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Việt A không phải

chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Việt A phạm tội “Mua

bán trái phép chất ma tuý”.

*Về hình phạt chính: Đề nghị áp dụng Khoản 1 Điều 251; điểm s Khoản 1

Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Việt A từ 36 đến 42 tháng tù.

* Về hình phạt bổ sung: Phạt bổ sung bị cáo từ 5.000.000đ – 10.000.000đ

về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

*Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ

luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy còn lại sau giám định; 01 dao lam bằng kim

loại.

- Trả lại anh Nguyễn Trọng Q 01 xe mô tô Hon đa màu xanh BKS 20H5 –

6672.

* Về án phí và quyền kháng cáo: Buộc bị cáo Việt A phải chịu án phí hình

sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của phápluật.

*Ý kiến của bị cáo: Nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội

đồng xét xử cho hưởng lượng khoan hồng với mức án thấp nhất để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nhất trí không có ý kiến tranh luận.

Kết thúc phần tranh tụng bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đại diện

VKS thành phố Phổ Yên không đưa ra quan điểm đối đáp, tranh luận gì thêm.

Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử nghỉ nghị án: Bị cáo đã

thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo xin cho hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Thủ tục tố tụng:

. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình

điều tra vụ án, các quyết định và các hành vi tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Tất cả các Quyết định tố tụng trong vụ án đều được lập, giao nhận cho những người tham gia tố tụng theo đúng trình tự mà pháp luật quy định. Các tài liệu, chứng cứ đã thu thập đều phản ánh đúng sự thật khách quan của vụ án, phù hợp với diễn biến của phiên tòa và có đủ cơ sở để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

. Xác định tư cách tham gia tố tụng trong vụ án: Liên quan đến chiếc

xe mô tô Honda Wave màu xanh, BKS 20H5-6672 đăng ký mang tên chị Trần Thị T, sinh năm 1975, trú tại xóm Mới, Phú Đô, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Tuy nhiên, chị T xác định đã bán xe vào năm 2011 cho hiệu sửa chữa xe máy tại Thái Nguyên. Chị xác định đã bán nên không còn thuộc quyền sở hữu đối với tài sản. Anh Nguyễn Trọng Q xác định mua xe vào năm 2022, chưa sang tên. Ngày 05/01/2023 em trai mượn để đi anh cho mượn. Xác định xe là tài sản thuộc quyền sở hữu của anh Q. Do vậy, xác định chị T không liên quan mà anh Q là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng trong vụ án.

. Người tham gia tố tụng là người chứng kiến vắng mặt mặt tại phiên

toà không có lý do. Hội đồng xét xử thấy rằng, trong hồ sơ đã có lời khai thể hiện quan điểm của họ; Kiểm sát viên, bị cáo cũng đề nghị xét xử vắng mặt. Xét việc người tham gia tố tụng nêu trên vắng mặt không gây trở ngại cho quá trình xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt họ theo quy định của pháp luật.

.Đánh giá về tội danh của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Việt A giữ nguyên lời khai tại quá trình điều

tra, bị cáo xác định do nghiện ma túy, trước đó ngày 03/01/2023 bị cáo thực hiện bán ma túy cho một người nam giới không quen biết tại khu vự xã Thành Công. Khoảng 07 giờ sáng ngày 05/01/2023, Việt A điều khiển xe mô tô Honda Wave màu xanh, BKS 20H5-6672 đi từ nhà đến khu vực tổ dân phố Kim Tỉnh, phường Trung Thành, thành phố Phổ Yên để mua ma túy về bán kiếm lời. Khi đến nơi, Việt A gặp một người nam giới ở khu nghĩa trang, do trước đó Việt A đã gặp người này một vài lần nhưng không biết họ tên, địa chỉ cụ thể và nhờ người này mua hộ 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng) ma túy loại Heroine. Sau đó, Việt A đưa tiền cho người nam giới, người nam giới đồng ý rồi cầm tiền của Việt A và bảo Việt A đứng đợi. Khoảng 15 phút sau người nam giới quay lại đưa cho Việt A 07 (bảy) gói giấy, bên trong mỗi gói đều chứa chất rắn màu trắng đục là ma túy Heroine, rồi người nam giới này bỏ đi. Mục đích mua về để bán kiếm lời, công cụ chia ma túy bằng con dao lam (dao lam bị thu giữ khi khám xét chính là công cụ bị cáo dùng chia ma túy). Quá trình thực hiện việc mua ma tuý, không có đồng phạm cùng tham gia, thực hiện với bị cáo.

Như vậy, tổng khối lượng ma túy mà Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành

phố Phổ Yên phát hiện và thu giữ của Nguyễn Việt A mua về nhằm mục đích bán trái phép là 0,509 gam gam ma túy, trong đó có 0,416 gam ma tuý loại Heroine và 0,093 gam ma tuý loại Methamphetamine.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo là hoàn toàn khách quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập hợp lệ trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, biên bản thu giữ vật chứng, biên bản khám xét và lời khai của những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do nghiện ma túy, để có tiền sử dụng bị cáo thực hiện mua ma túy chia nhỏ bán cho người nghiện khác để kiếm lời.

. Hội đông xét xử thấy: Bị cáo Việt A là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ chất ma túy để bán kiếm lời là vi phạm pháp luật, song vẫn cố ý thực hiện. Trong vụ án này, Bị cáo chưa thực hiện được việc bán ma tuý cho những đối tượng nghiện khác, tuy nhiên, ý thức chủ quan của bị cáo là mua ma tuý về chia nhỏ ra, bán để thu lợi nhuận. Việc bị cáo chưa thực hiện bán được cho ai đã bị cơ quan công an phát hiện, thu giữ là ngoài ý muốn chủ quan của bị cáo nên hành vi, ý thức của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “ mua bán trái phép chất ma tuý”. Viện kiểm sát nhân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Cụ thể nội dung khoản 1 Điều 251 BLHS có nội dung:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma tuý, thì bị phạt tù từ 02 năm đến

07 năm”

. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân

của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng thấy rằng:

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội,

bởi (Heroine) và Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục I, Nghị định 73/2018/NĐ - CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ (danh mục I là các chất ma túy tuyệt đối cấm sử dụng trong y học và đời sống xã hội). Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về ma tuý mà còn tiếp tay cho tệ nạn ma tuý ngày càng gia tăng, huỷ hoại lối sống, nhân cách của một số thanh niên hiện nay, làm tan vỡ hạnh phúc của biết bao gia đình và gây mất trật tự trị an, là nguồn gốc phát sinh nhiều loại tội phạm khác trong xã hội. Việc đưa ra xét xử là nhằm đấu tranh, kiên quyết loại bỏ loại tội phạm này ra khỏi đời sống xã hội. Nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội do bị cáo thiếu rèn luyện, tu dưỡng nên đã mắc nghiện ma túy, để phục vụ cho nhu cầu bản thân và mục đích trục lợi bất chính, bị cáo đã thực hiện Hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án.

Bị cáo có 01 tiền sự, cụ thể Năm 2020, bị Toà án nhân dân thị xã (nay là

thành phố) Phổ Yên , tỉnh Thái Nguyên áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian 22 tháng tại Quyết định số 26/2020/QĐ –TA ngày 07/7/2020 ( chấp hành xong ngày 13/5/2022), chưa được xoá tiền sự theo quy định. Do vậy, trong khi nghị án Hội đồng xét xử sẽ xem xét lượng hình đối với bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm

nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Việt A không

phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

. Hội đồng xét xử nhận định về hình phạt cần áp dụng: Khi thực hiện hành

vi phạm tội, bị cáo là người trưởng thành, nhận thức đầy đủ hành vi tàng trữ, mua bán trái phép là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, hơn nữa để mang tính giáo dục và răn đe đối với người phạm tội, cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn nghiêm khắc đối với bị cáo để làm gương răn đe và phòng ngừa chung.

.Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Xét thấy việc mua, bán ma túy của bị cáo Việt A nhằm thu lợi bất chính, cần

phạt khoản tiền nhất định để sung công quỹ Nhà nước.

.Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã trình bày luận tội đối với bị cáo, đề nghị

Hội đồng xét xử kết tội bị cáo như Cáo trạng đã truy tố, đề nghị mức hình phạt tù và đề xuất về xử lý vật chứng. Xét đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ của vụ án và diễn biến, kết quả tranh tụng tại phiên tòa cũng như nhận định của Hội đồng xét xử. Vì vậy, được chấp nhận.

. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án anh Nguyễn

Trọng Q là anh trai của bị cáo Việt A. Ngày 05/01/2023 anh cho Việt A mượn xe mô tô BKS – 20H5 – 6672, anh không biết Việt A sử dụng làm phương tiện đi mua ma túy. Xe mô tô là tài sản của anh đi lại nên đề nghị HĐXX cho xin lại để sử dụng. Hội đồng xét xử thấy, quá trình điều tra được tra cứu trên cơ sở dữ liệu không phải là vật chứng của vụ án khác, mặt khác chị Trần Thị T mang tên trên giấy đăng ký xe mô tô xác nhận đã bán từ năm 2011, anh Q mua lại từ năm 2022. Do vậy, cần trả lại cho anh Q xe mô tô là tài sản cá nhân quản lý sử dụng.

.Về xử lý vật chứng vụ án:

-Tịch thu tiêu huỷ: Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định và 01 chiếc dao

lam bằng kim loại đã thu giữ khi khám xét nhà ở của Nguyễn Việt A;

- Trả lại anh Nguyễn Trọng Q 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, BKS 20H5 – 6672, có số khung RLHHC09033Y054055, số máy: HC09E0054144, xe cũ, đã qua sử dụng.

. Án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Việt A phải chịu án phí

hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án

theo quy định của pháp luật.

. Về các vấn đề khác của vụ án:

Về nguồn gốc số ma tuý thu giữ của Nguyễn Việt A, theo Việt A khai mua

của một người nam giới tại khu vực tổ dân phố Kim Tỉnh, phường Trung Thành, thành phố Phổ Yên. Việt A không biết họ tên, địa chỉ cụ thể của người nam giới này nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, khi có căn cứ sẽ đề nghị xử lý theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Việt A phạm tội “Mua bán trái

phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

2.1. Hình phạt chính: Áp dụng Khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt:

Bị cáo Nguyễn Việt A 36 (Ba mươi sáu) tháng tù.

Thời hạn phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 05/01/2023.

Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng Hình sự, Quyết định tạm giam bị cáo

Nguyễn Việt A 45 ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2.2. Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự:

Phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Việt A 5.000.000đ (năm triệu đồng) để sung

công quỹ Nhà nước.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; điểma, c khoản

2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

3.1. Tịch thu tiêu hủy:

- 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu K1, ghi hoàn trả 0,405 gam mẫu

K1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói;

- 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu K2, ghi hoàn trả 0,077 gam mẫu

K2 còn lại sau giám định và vỏ bao gói;

- 01 phong bì niêm phong dấu đỏ bì ký hiệu L, ghi mẫu lưu kho vụ Nguyễn

Việt A;

- 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu T, ghi bên trong chứa 01 (một)

dao Lam bằng kim loại, đã qua sử dụng;

3.2. Trả lại anh Nguyễn Trọng Q 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda

Wave, màu xanh, BKS 20H5 – 6672, có số khung RLHHC09033Y054055, số máy: HC09E0054144, xe cũ, đã qua sử dụng.

(Vật chứng trên hiện đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự thành

phố Phổ Yên, đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận giữa Công an thành phố Phổ Yên với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên ngày 18/4/2023).

6. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 BLTTHS năm 2015, điểm a khoản 1 Điều

23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Việt A phải chịu 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm nộp

ngân sách Nhà nước.

7. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng

Hình sự:

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo và người liên quan tại phiên toà. Báo

cho biết, bị cáo và người liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014./.

Cỡ chữ