vanban.org

Bản án 85/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Sơn La, tỉnh Sơn La Tuyên án 02/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hà Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Hà Văn T 16 (mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 14/3/2023). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Văn Toàn - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hà Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SƠN LA
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2023/HS-ST
Ngày: 02-6-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Bích Hồng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hoàng Thanh Thúy.

2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan.

- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Thanh Hằng, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La tham gia phiên toà: Ông Tòng Thanh Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 92/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 92/2023/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:

Hà Văn T (tên gọi khác: Không), sinh ngày 12/9/1981 tại thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La; Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện tại: Bản G, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông Hà Văn H và bà Hà Thị M; Bị cáo có vợ là Bùi Thị Th (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân:

- Ngày 11/12/2002, bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Sơn La xử phạt 24 tháng tù giam về tội Mua bán trái phép chất ma túy;

- Ngày 22/4/2014, bị Tòa án nhân dân thành phố Sơn La xử phạt 24 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy;

- Ngày 09/3/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Sơn La xử phạt 36 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (đều đã được xóa án tích).

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14 tháng 3 năm 2023 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 20 giờ 00 phút ngày 14/3/2022, tổ công tác Công an phường Chiềng Lề phối hợp với Công an phường Quyết Thắng - Công an thành phố Sơn La làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 3, phường Quyết Thắng, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La đã phát hiện 01 nam thanh niên vừa xuống xe ô tô nhãn hiệu Ford Focus màu đen, biên kiểm soát 26A-170.82 có biểu hiện nghi vẩn tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác đã mời người chứng kiến và tiếp cận nam thanh niên yêu cầu kiểm tra. Quá trình kiểm tra nam thanh niên khai tên Hà Văn T, sinh năm 1981, trú tại ban Giảng, phường Quyết Thắng, thành phố Sơn La, tinh Sơn La, bắt quả tang Hà Văn T về hành vi cất giữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Hà Văn T, thu giữ vật chứng, gồm: 04 gói giấy màu trắng có chữ bên trong đều có cục bột màu trắng; 01 thẻ Căn cước công dân số 014081001686 mang tên Hà Văn T; 01 xe ô tô nhãn hiệu FORD FOCUS màu đen, BKS 26A.17082 đã qua sử dụng, có số khung: RL0DFMM9JR01705, số máy QQDD01705; 01 giấy đăng ký xe ô tô số 26008588 của xe ô tô BKS 26A.17082 mang tên Hà Văn Hồng.

Ngày 15/3/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La đã thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh và lấy mẫu giám định vật chứng thu giữ của Hà Văn T khi bắt quả tang, kết quả: Tổng khối lượng 04 gói bên trong chứa cục bột màu trắng có khối lượng 0,32 gam, lấy 0,14 gam làm mẫu giám định ký hiệu từ V1 đến V4. Còn lại 0,18 gam làm mẫu lưu kho ký hiệu từ H1 đến H4.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La ra Quyết định trưng cầu giám định số 55/QĐ-ĐCSKT-MT trưng cầu giám định đối với vật chửng thu giữ. Tại kết luận giám định số 600/KL-KTHS ngày 17/3/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu V1, V2, V3, V4 gửi giám định đều là ma túy; loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiên chất; Khối lượng của mẫu gửi giám định là V1 =0,05 gam, V2=0,03 gam, V3=0,02 gam, V4=0,04 gam; Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,32 gam; loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Quá trình điều tra bị cáo Hà Văn T khai nhận: Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 14/3/2023, T điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Ford Focus mà đen, biển kiểm soát 26A-170.82 của Hà Văn Hồng (là bố đẻ của T) từ nhà tại bản G, phường Quyết Thắng, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La đi đến huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La để tìm mua ma túy. Khi đến khu vực cổng chào xã Thôm Mòn, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, T gặp và mua được cua một người phụ nữ khoảng 30 tuổi (không biết tên, địa chỉ) 04 gói giấy màu trắng, bên trong đều chứa Heroine với giá 400.000 VNĐ. Mua được ma túy, T lên xe ô tô cất vào ngăn để đồ cạnh phanh tay rồi điều khiển ô tô đi về thành phố Sơn La. Khi đến tổ 3, phường Q, thành phố Sơn La, T dừng xe xuống để tìm nơi sử dụng ma túy thì bị tổ công tác Công an phường Chiềng Lề phối hợp với Công an phường Quyết Thắng, Công an thành phố Sơn La phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Về nguồn gốc 0,32 gam Heroine, bị cáo Hà Văn T mua của một người phụ nữ không quen biết vào ngày 14/3/2023 tại khu vực vực cổng chào xã Thôm Mòn, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Ngoài lời khai của bị cáo, không còn chứng cứ nào khác để chứng minh. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sơn La không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án.

Đối với 01 xe ô tô nhãn hiệu Ford Focus màu đen, biển kiểm soát 26A-170.82, số khung RL0DFMM9JR01705, số máy QQDD01705 và 01 giấy đăng ký xe ô tô số 26008588 của xe ô tô biển kiểm soát 26A-170.82 mang tên Hà Văn H. Quá trình điều tra xác định là tài sản của ông Hà Văn H, sinh năm 1959, trú tại bản G, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La (là bố đẻ của Hà Văn T). Ngày 14/3/2023, ông H cho T mượn chiếc xe ô tô trên, việc T sử dụng chiếc xe để thực hiện hành vi phạm tội, ông H không biết. Ngày 27/3/2023 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Sơn La đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho Hà Văn Hồng quản lý, sử dụng. Ông H đã nhận lại xe và không có ý kiến khiếu nại hay yêu cầu bồi thường nào khác.

Tại bản cáo trạng số 173/CT-VKSTP ngày 10/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La đã truy tố bị cáo Hà Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Hà Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Hà Văn T từ 16 đến 18 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 04 mảnh giấy màu trắng có chữ; Mẫu lưu kho ký hiệu H1 =0,05 gam. H2=0.06 gam, H3=0,02 gam. H4=0,05 gam.

Trả lại cho bị cáo Hà Văn T 01 thẻ căn cước công dân số 014081001686 mang tên Hà Văn T.

Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Hà Văn T nhận tội, không có ý kiến tranh luận với vị đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Sơn la, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, thực hiện đúng thủ tục tố tụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa đã thể hiện:

Ngày 14/3/2023, Hà Văn T đã thực hiện hành vi cất giữ trái phép 0,32 gam Heroine với mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang tại khu vực tổ 3, phường Quyết Thắng, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.

Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, bị cáo hoàn T nhất trí với hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ:

- Lời khai nhận tội của bị cáo;

- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 20 giờ 00 phút ngày 14/3/2023 tại khu vực tổ 3, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La đối với Hà Văn T cùng vật chứng thu giữ là: 04 gói giấy màu trắng có chữ bên trong đều có cục bột màu trắng; 01 thẻ Căn cước công dân số 014081001686 mang tên Hà Văn T; 01 xe ô tô nhãn hiệu FORD FOCUS màu đen, BKS 26A.17082 đã qua sử dụng, có số khung: RL0DFMM9JR01705, số máy QQDD01705; 01 giấy đăng ký xe ô tô số 26008588 của xe ô tô BKS 26A.17082 mang tên Hà Văn Hồng.

- Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong kiểm tra vật chứng và niêm phong lại; Biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại; Kết luận giám định.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của anh Lò Quốc B, sinh năm 1993, HKTT: Bản L, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La là người chứng kiến việc bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với kết quả điều tra.

Đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Hà Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo Hà Văn T phạm tội với tổng khối lượng 0,32 gam Heroine đã vi phạm tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm và thuộc trường hợp nghiêm trọng.

Hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Bị cáo là đối tượng sử dụng ma túy có nhân thân xấu, có 3 tiền án nhưng đều đã được xóa án tích. Do đó cần có mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, cần cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có tác dụng răn đe giáo dục và phòng ngừa chung, trên cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Bị cáo làm nghề lao động tự do, không thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, xét việc áp dụng hình phạt bổ sung không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Vật chứng vụ án: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mờ; 04 mảnh giấy màu trắng có chữ; Mẫu lưu kho ký hiệu H1 =0,05 gam, H2=0,06 gam, H3=0,02 gam, H4=0,05 gam là vật Nhà nước cấm lưu hành và vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy, căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đối với 01 căn cước công dân số 014081001686 mang tên Hà Văn T là tài sản của bị cáo, cần trả lại cho chủ sở hữu bị cáo Hà Văn T, căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về án phí: Bị cáo Hà Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Hà Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Hà Văn T 16 (mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 14/3/2023).

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 04 mảnh giấy màu trắng có chữ; Mẫu lưu kho ký hiệu H1=0,05 gam, H2=0,06 gam, H3=0,02 gam, H4=0,05 gam.

Trả lại cho bị cáo Hà Văn T 01 thẻ căn cước công dân số 014081001686 mang tên Hà Văn T.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/5/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 21 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14: Buộc bị cáo Hà Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Hà Văn T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 02/6/2023).

Cỡ chữ