- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý Thị S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật…"
- Tòa quyết gì? Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 85/2023/HS-ST. Ngày: 30 - 6 - 2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V - TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Hiếu.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Mùi Văn Huấn
Ông Trịnh Lương Hữu
- Thư ký phiên tòa: Ông Bàn Văn Sơn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V - tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Điệp - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 86/2023/TLST- ST ngày 30 tháng 5 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2023/QĐXXST- HS ngày 19 tháng 6 năm 2023, đối với bị cáo:
Lý Thị S; tên gọi khác: Không, sinh năm 1959, sinh tại huyện B, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: Bản L, xã T, huyện V, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Mông; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý A L và bà Mùa Thị S (Đều đã chết); bị cáo có chồng là Sồng A V, sinh năm 1966 và 06 con; con lớn sinh năm 1989; con nhỏ, sinh năm 1998; tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 07/3/2023 cho đến nay. Có mặt.
- Người phiên dịch: Ông Thào A T, sinh năm 1984, đơn vị công tác: Chi cục thi hành án dân sự huyện V, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lý Thị S, sinh năm 1959, trú tại: Bản L, xã T, huyện V, tỉnh Sơn La là đối tượng nghiện chất ma túy. Khoảng 09 giờ ngày 06/3/2023, S một mình đi bộ từ nhà đến khu vực A Lang thuộc bản Láy, xã Tân Xuân, huyện V để tìm mua ma túy cho bản thân sử dụng. Tại đường dân sinh của bản Láy, xã Tân Xuân, S đã gặp một người phụ nữ dân tộc Mông, khoảng 60 tuổi không biết tên và địa chỉ. Qua trao đổi, S đã hỏi và mua được của người phụ nữ đó 01 gói Heroine, bên ngoài gói bằng mảnh nilon màu trắng với giá 100.000 đồng. Sau khi mua được Heroine, S cất vào trong chiếc túi vải thổ cẩm màu đen đang đeo trước bụng rồi đi về nhà, sau đó lấy ra một ít sử dụng. Số Heroine còn lại, S gói lại như ban đầu rồi tiếp tục cất vào trong chiếc túi vải thổ cẩm màu đen mang theo bên mình để bản thân sử dụng dần. Đến 10 giờ 20 phút ngày 07/3/2023 khi S đang đi bộ trên đường dân sinh của bản L, xã T thì bị tổ công tác Công an xã T, huyện V kiểm tra. Quá trình kiểm tra, tổ công tác đã phát hiện bên trong chiếc túi vải màu đen thêu hoa văn Lý Thị S đang đeo trước bụng có 01 gói nilon màu trắng bên trong đựng chất bột màu trắng nghi là Heroine. Lý Thị S khai nhận đó là ma túy của S cất giấu để cho bản thân sử dụng. Căn cứ vào hành vi vi phạm của Lý Thị S, tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong gói ma túy, đồng thời dẫn giải Lý Thị S về trụ sở Công an huyện V bàn giao cho Cơ quan CSĐT Công an huyện V để điều tra, giải quyết.
Ngày 07/3/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện V, Viện kiểm sát nhân dân huyện V cùng Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La tiến hành cân tịnh xác định khối lượng số chất bột màu trắng nghi là Heroine thu giữ của Lý Thị S được khối lượng là 0,41 gam, lấy toàn bộ 0,41 gam làm mẫu giám định ký hiệu là S bàn giao cho Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La giám định chất ma túy, loại ma túy.
Tại kết luận giám định số: 553 ngày 10/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu S là ma túy, loại Heroine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,41 gam; Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,41 gam, loại Heroine. Mẫu giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Cáo trạng số: 55/CT-VKS ngày 29/5/2023 của Viện kiểm sát nhân huyện V, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Lý Thị S về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới ảnh hưởng đến nội dung vụ án, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố Lý Thị S phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Lý Thị S từ 18 (Mười tám) tháng tù đến 20 (Hai mươi) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng vỏ gói niêm phong ban đầu và vỏ gói ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que Test thử ma túy; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que thử thai; 01 chiếc túi vải thổ cẩm màu đen.
Ý kiến của bị cáo: Nhất trí với quan điểm truy tố của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận gì khác.
Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong qua trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
. Về chứng cứ xác định có tội: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản niêm phong đồ vật tài liệu bị tạm giữ, Kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, Lời khai của người chứng kiến, Biên bản ghi lời khai, Biên bản hỏi cung bị can; cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ; thể hiện: Ngày 07/3/2023 Lý Thị S có hành vi cất giấu trái phép 0,41 gam Heroine mục đích để bản thân sử dụng thì bị tổ công tác Công an xã Tân Xuân làm nhiệm vụ tại Bản L, xã T, huyện V phát hiện bắt quả tang. Trên cơ sở đó, có đủ căn cứ kết luận bị cáo Lý Thị S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là những tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, làm lây lan phát sinh các tệ nạn xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý phạm tội. Vì vậy, cần áp dụng mức án tương sứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
Bị cáo Lý Thị S đang bị tạm giam, Hội đồng xét xử tiếp tục tạm giam bị cáo trong hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy bị cáo không có tài sản có giá trị, không có thu nhập, không đủ điều kiện và khả năng thi hành, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Vật chứng của vụ án: Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong đựng vỏ gói niêm phong ban đầu và vỏ gói ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que Test thử ma túy; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que Test thử thai; 01 chiếc túi vải thổ cẩm màu đen là vật không còn giá trị sử dụng tuyên tịch thu tiêu hủy.
Về nguồn gốc chất ma túy: Lý Thị S khai nhận mua được của một người phụ nữ dân tộc Mông, không biết tên và địa chỉ. Do vậy, cơ quan CSĐT Công an huyện V không có căn cứ điều tra làm rõ.
Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
2. Tuyên bố bị cáo Lý Thị S phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Xử phạt bị cáo Lý Thị S 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/3/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng vỏ gói niêm phong ban đầu và vỏ gói ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que Test thử ma túy; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que Test thử thai; 01 chiếc túi vải thổ cẩm màu đen.
Theo biên bản giao nhận vật chứng số 80/BBVC-CCTHA ngày 02/6/2023.
4. Về án phí: Áp dụng; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: -Toà án ND tỉnh; - VKSND huyện; - Công an; - Trại giam; - THA hình sự; - THA dân sự; - Bị cáo; - Sở Tư pháp; - Lưu án văn; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Xuân Hiếu |