- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lưu Xuân Hoàn - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
- Tòa quyết gì? Về hình sự: căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 và điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban T…
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TL TỈNH HN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 85/2023/HS-ST Ngày: 25 - 9 - 2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TL, TỈNH HN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: ông Nguyễn Quang A;
Các Hội thẩm nhân dân: ông Quách Xuân L và bà Nguyễn Thị M.
Thư ký phiên toà: bà Nhiếp Thị L2 - Thư ký Tòa án nhân dân huyện TL, tỉnh HN.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TL, tỉnh HN tham gia phiên toà: ông Từ Văn T- Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TL, tỉnh HN, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 78/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 82/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2023, đối với bị cáo:
- Lưu Xuân H - sinh năm 1978; nơi cư trú: Xóm 10, xã XB, huyện XT, tỉnh NĐ; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Xuân Đ và bà Nguyễn Thị N; có vợ là Hoàng Thị H1 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: không. Đặc điểm nhân thân: Ngày 19/6/2007, Tòa án nhân dân thành phố NĐ, tỉnh NĐ xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 26/7/2012, Tòa án nhân dân huyện XT, tỉnh NĐ xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 30/5/2023 đến ngày 08/6/2023 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh HN; có mặt tại phiên tòa.
- Người chứng kiến: ông Đào Xuân T1; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 30/5/2023, Phòng Cảnh sát quản lý Hành chính về trật tự xã hội, Công an tỉnh HN phối hợp với Công an xã TT, huyện TL tiến hành tuần tra tại địa bàn thôn Tân Hưng, xã TT, huyện TL thì thấy Lưu Xuân H - sinh năm 1978, trú tại xóm 10, xã XB, huyện XT, tỉnh NĐ đang đi bộ có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra, phát hiện Lưu Xuân H đang cầm ở lòng bàn tay trái 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục, H khai nhận là ma túy loại Heroine vừa mua để sử dụng. Lực lượng Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lưu Xuân H và thu giữ vật chứng. Cùng ngày 30/5/2023, Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội - Công an tỉnh HN đã chuyển toàn bộ hồ sơ vụ việc, đối tượng, vật chứng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra
- Công an huyện TL để giải quyết theo thẩm quyền.
Ngày 31/5/2023, Cơ quan CSĐT - Công an huyện TL thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp đối với chỗ ở của Lưu Xuân H tại xóm 10, xã XB, huyện XT, tỉnh NĐ; quá trình khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu có liên quan đến vụ án.
Ngày 31/5/2023, Cơ quan CSĐT - Công an huyện TL ra Quyết định trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh HN giám định đối với mẫu vật chứng thu giữ của Lưu Xuân H khi bị bắt quả tang được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01 để xác định loại, khối lượng chất ma túy.
Tại bản kết luận giám định số 306/KL-KTHS ngày 06/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh HN kết luận: Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,155g (không phẩy một trăm năm mươi lăm gam) loại Heroine (Heroin).
Quá trình điều tra, Lưu Xuân H khai nhận: Khoảng 13 giờ ngày 30/5/2023, khi đang trên thuyền chở hàng TP-0266 neo đậu ở sông Đáy tại khu vực cầu treo thuộc địa phận thôn Tân Hưng, xã TT, huyện TL thì có nhu cầu sử dụng ma túy nên H rời khỏi thuyền đi bộ trên đường làng để tìm mua ma túy sử dụng. Khi đi đến khu vực chân cầu treo thì gặp người nam giới (H mới quen và được giới thiệu tên là Quân) đang đứng cạnh chiếc xe mô tô, H hỏi “có biết chỗ nào lấy trắng không lấy hộ anh 200.000 đồng”, người đó trả lời “đưa tiền đây”, H đưa số tiền 200.000 đồng, người này cầm tiền bảo H đứng đợi rồi điều khiển xe mô tô đi khoảng 10 phút sau quay lại đưa cho H 01 gói giấy bạc màu trắng, H mở kiểm tra thấy có chứa ma túy cần mua nên gói lại, cầm ở tay trái, rồi đi bộ quay về thuyền để tìm chỗ sử dụng. Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày thì H bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng
Tại bản Cáo trạng số 81/CT-VKS-MT ngày 05/9/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện TL đã truy tố Lưu Xuân H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TL giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Lưu Xuân H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự - xử phạt bị cáo Lưu Xuân H từ 27 đến 30 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Xử lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự - tịch thu, tiêu hủy lượng ma túy hoàn trả sau giám định.
- Bị cáo Lưu Xuân H đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, Lưu Xuân H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như trong nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 30/5/2023, tại đoạn đường thuộc địa phận thôn Tân Hưng, xã TT, huyện TL; Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội - Công an tỉnh HN phối hợp với Công an xã TT, huyện TL làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát đã phát hiện, bắt quả tang Lưu Xuân H đang cất giữ trái phép trong lòng bàn tay trái 0,155 gam ma túy loại Heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân.
Hành vi tàng trữ trái phép Heroine của Lưu Xuân H là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách của Nhà nước về độc quyền quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Bản thân bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, tàng trữ Heroine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 5 gam. Hội đồng xét xử kết luận: hành vi của Lưu Xuân H đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện TL truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về nhân thân: bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xét xử về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo đã “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt:
- Hình phạt chính: qua xem xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
- Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, hiện đang bị tạm giam, không có thu nhập, vì vậy miễn phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: toàn bộ số ma túy hoàn trả sau giám định là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, nên cần tịch thu, tiêu hủy.
Về các vấn đề khác:
- Về nguồn gốc số ma túy và người bán ma túy cho Lưu Xuân H: quá trình điều tra, H khai số ma túy H tàng trữ trái phép là do H mua của một người nam giới tên là Quân, H mới quen, nên không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể. H chỉ biết người này đi xe mô tô màu xanh, không biết nhãn hiệu gì, không nhớ biển kiểm soát, cao 1m60, dáng người gầy. Ngoài lời khai của H, thì không còn tài liệu, chứng cứ nào khác, nên Cơ quan CSĐT - Công an huyện TL không có căn cứ làm rõ nguồn gốc số ma túy cũng như người đã bán ma túy cho H.
Về án phí: bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về hình sự: căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 và điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
Tuyên bố: bị cáo Lưu Xuân H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Lưu Xuân H 27 (hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (30/5/2023).
- Hình phạt bổ sung: miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
2. Xử lý vật chứng: tịch thu, tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn trả sau giám định trong phong bì niêm phong số 306/KTHS (chi tiết vật chứng như trong Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 07/9/2023 giữa Cơ quan CSĐT - Công an huyện TL với Chi cục THADS huyện TL).
3. Án phí: bị cáo Lưu Xuân H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo đối với bản án: bị cáo có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
5. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - TAND tỉnh HN; - VKSND tỉnh HN; - VKSND huyện TL; - Cơ quan CSĐT Công an huyện TL; - Chi cục THADS huyện TL; - Trại tạm giam Công an tỉnh HN; - Sở Tư pháp tỉnh HN; - Cổng thông tin điện tử của Tòa án; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quang A |