- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lù Văn S - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lù Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TAND HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 85/2023/HS-ST Ngày: 29/8/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Văn Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Đình Hòa.
Ông Lò Văn Yêu.
Thư ký phiên toà: Ông Lường Văn Đoàn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai, vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 88/2023/TLST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2023/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lù Văn S, tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Ngày, tháng, năm sinh: 08/9/2000. Nơi sinh: huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản Đ, xã Phúc Khoa, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Thái. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 5/12. Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không. Con ông: Lù Văn L, đã chết. Con bà: Đèo Thị D, sinh năm 1981. Hiện mẹ của bị cáo đang cư trú tại bản Đ, xã Phúc Khoa, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu. Anh, chị, em ruột: Gia đình bị cáo có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình. Vợ: Đèo Thị D, sinh năm 2002 (Đã ly hôn). Con: Bị cáo có 01 con sinh năm 2019. Hiện con của bị cáo đang cư trú tại bản Đ, xã Phúc Khoa, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.
Tiền án: Bị cáo có 01 tiền án, tại bản án hình sự sơ thẩm số 21/2020/HS-ST ngày 05/6/2020 của Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt Lù Văn Sơn 01 năm 02 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 02/8/2021 Lù Văn S chấp hành xong án phạt tù trở về địa phương. Hiện chưa được xóa án tích; Tiền sự: Không.
Bị cáo Lù Văn S bị bắt, tạm giữ từ ngày 24/4/2023, đến ngày 30/4/2023 bị tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 08 giờ, ngày 24/4/2023, Lù Văn S đi bộ từ nhà xuống khu vực bản C, thị trấn Tân Uyên, huyện Tân Uyên để tìm mua Heroin sử dụng. Khi đến bản C, S đi vào đồi chè thì gặp một nam thanh niên không rõ nhân thân lai lịch. Tại đây, S hỏi người này có Heroin bán không, thì người này trả lời “có” và hỏi S mua bao nhiêu tiền, S trả lời mua 100.000 đồng rồi đưa tiền cho người này, người này cầm lấy tiền rồi đưa lại cho S 01 gói Heroin được gói ngoài bằng 01 mảnh giấy bạc màu trắng, sau đó người này đi đâu thì S không biết. Sau khi mua được Heroin, S mở gói Heroin ra chia thành 02 gói nhỏ, trong đó 01 gói được gói ngoài bằng 01 mảnh giấy bạc màu trắng ban đầu và 01 gói được gói ngoài bằng 01 mảnh giấy màu trắng có chữ màu xanh, sau đó Sơn cất vào túi quần bên trái đang mặc rồi đi về. Hồi 09 giờ 30 phút cùng ngày, khi S khi về đến khu vực bản Đ, xã Phúc Khoa, huyện Tân Uyên thì gặp tổ công tác Công an xã Phúc Khoa đang làm nhiệm vụ tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, tổ công tác đã phát hiện, bắt quả tang S đang tàng trữ 02 gói Heroin trong túi quần bên trái đang mặc, trong đó 01 gói được gói ngoài bằng 01 mảnh giấy bạc màu trắng và 01 gói được gói ngoài bằng 01 mảnh giấy màu trắng có chữ màu xanh, có tổng khối lượng 0,09 gam. Sơn khai nhận tàng trữ Heroin với mục đích sử dụng.
Ngày 24/4/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Uyên đã thành lập hội đồng mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu vật giám định và niêm phong vật chứng. Tại bản kết luận giám định số 38/KL-TCGĐ ngày 24/4/2023 của người giám định tư pháp theo vụ việc thuộc Công an huyện Tân Uyên, kết luận: Vật chứng nghi là chất ma túy thu giữ của Lù Văn S có tổng khối lượng 0,09 gam (không phẩy không chín gam). Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Uyên đã trích toàn bộ số chất bột, màu trắng thu giữ của Lù Văn S để gửi giám định chất ma túy.
Tại bản kết luận giám định số: 502/KL-KTHS ngày 28/4/2023, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: 02 (hai) mẫu chất bột, màu trắng (ký hiệu Mẫu 1, Mẫu 2) gửi giám định là ma túy; loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Tại bản cáo trạng số: 68/CT-VKS-TU, ngày 31/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu truy tố bị cáo Lù Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về kết luận điều tra và bản cáo trạng nêu trên.
Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên giữ nguyên quan điểm truy tố đồng thời phân tích, đánh giá toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lù Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lù Văn S từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Lù Văn S thừa nhận hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận gì với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Uyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, trong quá trình xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nội dung vụ án, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thu thập hợp pháp. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định: Hồi 09 giờ 30 phút, ngày 24/4/2023, tại bản Đ, xã Phúc Khoa, huyện Tân Uyên, Lù Văn S đang có hành vi tàng trữ trái phép 02 gói Heroin có tổng khối lượng 0,09 gam với mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang.
Bị cáo Lù văn S là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và có 01 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chưa được xóa án tích. Bị cáo không lấy bản án trước để làm bài học cho bản thân mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo coi thường pháp luật. Hành vi đó của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định hành vi của bị cáo Lù Văn S đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Vì vậy, quan điểm xử lý trách nhiệm hình sự của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo sinh ra và lớn lên được bố, mẹ nuôi dưỡng và học hết lớp hết lớp 5/12 rồi bỏ học ở nhà phụ giúp gia đình và xây dựng gia đình. Bị cáo có 01 tiền án, tại bản án hình sự sơ thẩm số 21/2020/HS-ST ngày 05/6/2020 của Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt Lù Văn S 01 năm 02 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 02/8/2021 Lù Văn S chấp hành xong án phạt tù trở về địa phương. Hiện chưa được xóa án tích.
Ngày 24/4/2023 bị cáo thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, đến ngày 30/4/2023 bị cáo bị khởi tố.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người dân tộc thiểu số. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có một mức án phù hợp, tương xứng với hành vi của bị cáo đã gây ra và cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, thu nhập thấp, khó khăn về kinh tế, không có tài sản riêng. Do đó Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án gồm: 02 gói Heroin, trong đó 01 gói được gói ngoài bằng 01 mảnh giấy bạc màu trắng và 01 gói được gói ngoài bằng 01 mảnh giấy màu trắng có chữ màu xanh, có tổng khối lượng 0,09 gam. Cơ quan Điều tra đã gửi toàn bộ để giám định, Cơ quan giám định lưu mẫu không hoàn lại nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Vật chứng còn 01 mảnh giấy bạc màu trắng, 01 mảnh giấy màu trắng có chữ màu xanh, Hội đồng xét xử xác định là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Những vấn đề có liên quan: Về nguồn gốc số Heroin bị thu giữ, bị cáo Lù Văn S khai do bị cáo mua của một nam thanh niên không rõ nhân thân lai lịch tại khu vực đồi chè, thuộc bản C, thị trấn Tân Uyên, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu với số tiền 100.000 đồng vào ngày 24/4/2023. Quá trình điều tra không xác định được nam thanh niên này nên không có căn cứ để điều tra xử lý.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 5 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106; Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lù Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
[2] Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lù Văn S 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 24/4/2023.
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[3] Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bì thư của Công an huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu, bên trong đựng 01 mảnh giấy bạc màu trắng, 01 mảnh giấy màu trắng có chữ màu xanh.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 09 giờ 00 phút, ngày 11 tháng 8 năm 2023 giữa cơ quan CSĐT – Công an huyện Tân Uyên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Uyên).
[4] Về án phí: Bị cáo Lù Văn S phải 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[5] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp trên trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lai Châu; - VKSND tỉnh Lai Châu; - Sở tư pháp tỉnh Lai Châu; - VKSND huyện Tân Uyên; - Chi cục THADS huyện Tân Uyên; - Công an huyện Tân Uyên; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Văn Thanh |