vanban.org

Bản án 85/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Nam Định Tuyên án 20/09/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 20/09/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Trọng D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Trọng D 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 21 tháng 4 năm 2023. Về án phí: Bị cáo Trần Trọng D phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Trọng D "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Trọng D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2023/HS-PT
Ngày: 20-9-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Kiểm

Các Thẩm phán:

Bà Vũ Thị Mai Hương

Ông Nguyễn Anh Dũng

- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Ngọc Quỳnh - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Thanh Tâm - Kiểm sát viên

Ngày 20 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 71/2023/TLPT-HS ngày 29 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2023/QĐXXPT-HS ngày 07 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo Trần Trọng D, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 24/2023/HS-ST ngày 25-7-2023 của Toà án nhân dân huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định.

- Bị cáo kháng cáo:

Trần Trọng D, sinh năm 1979; nơi cư trú: số 6/485 đường T, phường B, thành phố N, tỉnh N; nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Trọng M và bà Nguyễn Thị H; có vợ là Nguyễn Thị T; có 03 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2019; tiền sự, tiền án: không; bị bắt tạm giữ từ ngày 21 tháng 4 năm 2023, chuyển tạm giam ngày 27 tháng 4 năm 2023; có mặt.

- Người chứng kiến:

1. Ông Hoàng Đình T1, vắng mặt.

2. Ông Hoàng Văn T2, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 21 tháng 4 năm 2023, tổ công tác đội điều tra tổng hợp Công an huyện Mỹ Lộc làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát bảo đảm an ninh trật tự trên quốc lộ 21A, xã Mỹ Thuận, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định khi đi đến khu vực gần nhà nghỉ 68 thuộc thôn Đại Thắng, xã Mỹ Thuận, huyện Mỹ Lộc phát hiện bị cáo Trần Trọng D đang đi bộ ra xe ô tô nhãn hiệu Mazda biển số 18A-131.86, có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy. Tổ công tác đã yêu cầu bị cáo D đứng lại để kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra bị cáo đã tự giác giao nộp cho tổ công tác từ tay phải của bị cáo một túi ni lông màu trắng bên trong có chứa một gói giấy bạc màu vàng, bên trong gói giấy bạc màu vàng có chứa hai túi ni lông màu trắng, bên trong mỗi túi ni lông màu trắng đều chứa các hạt tinh thể dạng cục màu trắng (bị cáo khai đó là ma túy vừa mua với giá 1.300.000 đồng của một thanh niên không quen biết để sử dụng cho bản thân, khi chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện). Tổ công tác đã lập biên bản phạm tội quả tang đối với bị cáo D và niêm phong toàn bộ vật chứng theo quy định. Ngoài ra, tổ công tác còn tạm giữ của bị cáo một chiếc xe ô tô biển số 18A-131.86 nhãn hiệu Mazda màu đỏ đã qua sử dụng, số khung RN2KF5326JC102295, số máy PY30833847.

Tại Kết luận giám định số 642/KL-KTHS ngày 24 tháng 4 năm 2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định, kết luận: Mẫu các hạt tinh thể dạng cục màu trắng trong hai túi ni lông màu trắng (hai túi ni lông màu trắng được gói trong gói giấy bạc màu vàng và tất cả được đựng trong một túi ni lông màu trắng), trong phong bì thư được niêm phong gửi giám định đều là ma túy. Loại ma túy: methamphetamin. Tổng khối lượng mẫu: 0,389 gam.

Về nguồn gốc số methamphetamin bị cáo khai là: Khoảng 12 giờ ngày 21 tháng 4 năm 2023, bị cáo điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Mazda biển số 18A-131.86 một mình từ khu vực đường Hùng Vương, phường Vị Hoàng, thành phố Nam Định đến khu vực nhà nghỉ 68 trên quốc lộ 21A thuộc xã Mỹ Thuận, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định. Tại đây, bị cáo mua ma túy của một nam thanh niên không biết rõ tên, địa chỉ với số tiền 1.300.000 đồng. Người thanh niên cầm tiền và đưa cho bị cáo một túi ni lông màu trắng (bên trong có hai gói giấy bạc màu vàng). Bị cáo cầm gói ma túy trong lòng bàn tay phải đi bộ ra xe ô tô để về nhà thì bị tổ công tác Công an huyện Mỹ Lộc phát hiện, bắt quả tang.

Đối với người thanh niên đã bán methamphetamin cho bị cáo, bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mỹ Lộc không có đủ căn cứ để điều tra làm rõ.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 24/2023/HS-ST ngày 25-7-2023 của Toà án nhân dân huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định đã quyết định:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Trần Trọng D phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Trần Trọng D 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 21 tháng 4 năm 2023. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Trần Trọng D không bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền.

Ngoài ra bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo

Ngày 04-8-2023, bị cáo có đơn kháng cáo với nội dung: Toà án xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng, nhưng mức hình phạt 01 năm tù là quá nặng, đề nghị Toà án tỉnh xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

Tại phiên toà phúc thẩm:

- Bị cáo Trần Trọng D giữ nguyên nội dung kháng cáo trình bày: Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn bị cáo là lao động chính trong gia đình vợ không có công việc ổn định phải nuôi 03 con nhỏ, bố mẹ già yếu không có người chăm sóc. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm thành công dân có ích cho xã hội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định kết luận về vụ án: Đơn kháng cáo của bị cáo hợp lệ, được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Trần Trọng D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, không oan. Cấp sơ thẩm đã xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử phạt bị cáo 01 năm tù là đúng quy định của pháp luật, đảm bảo tính răn đe giáo dục. Không có căn cứ để xem xét kháng cáo của bị cáo. Đề nghị áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 BLTTHS, giữ nguyên án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định, được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Toà án cấp sơ thẩm trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS). Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, có căn cứ xác định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

Xét kháng cáo của bị cáo thấy rằng: Vào 13 giờ 30 phút, ngày 21 tháng 4 năm 2023, tại khu vực gần nhà nghỉ 68 thuộc thôn Đại Thắng, xã Mỹ Thuận, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định, bị cáo D đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,389 gam methamphetamin với mục đích mua về sử dụng thì bị tổ công tác Công an huyện Mỹ Lộc phát hiện, bắt quả tang. Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Về mức hình phạt: Căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội, xét nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cấp sơ thẩm đã xử phạt Trần Trọng D 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS là có căn cứ pháp lý, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tại cấp phúc thẩm bị cáo không xuất trình chứng cứ gì mới để HĐXX giảm nhẹ hình phạt nên không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, cần giữ nguyên mức hình phạt như cấp sơ thẩm đã tuyên mới đủ tính răn đe, giáo dục bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải nộp án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ: điểm a khoản 1 Điều 355, 356 Bộ luật tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Trọng D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Trần Trọng D 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 21 tháng 4 năm 2023.

3. Về án phí: Bị cáo Trần Trọng D phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người bị thi hành án có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, thời hiệu thi hành án thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ