- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn A - phạm tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (điều 157 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo về xin hưởng án treo, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2023/HS-ST ngày 13 tháng 01 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương về biện pháp chấp hành hình phạt.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 157 Bộ luật Hình sự; Điều 344 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 85/2023/HS-PT Ngày 13-6-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Huy Toàn.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Huỳnh Đức.
Ông Trương Văn Lộc.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Hồng Thái – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Tấn Lập - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2023, tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 39/2023/TLPT-HS ngày 01 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Văn A do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2023/HS-ST ngày 13 tháng 01 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Văn A sinh năm 1988 tại tỉnh Nam Định; nơi cư trú: xóm 14, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; nơi tạm trú: số 2/23A khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C (đã chết) và bà Nguyễn Thị T; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 05 tháng 5 năm 2022 đến ngày 08 tháng 5 năm 2022 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khởi nơi cư trú cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn A: Ông Nguyễn Văn Hiệp – Luật sư của Công ty Luật TNHH MTV Thành Văn Chi nhánh Bình Dương thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 5 năm 2023 bị cáo có đơn từ chối luật sư.
Ngoài ra, vụ án còn có 06 bị cáo, 01 bị hại không kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn A, Tô Thanh T, Phạm Thành N, Lê Hoàng N1, Vũ Đình H, Lê Dương D, Nguyễn Tấn T1 và Nguyễn Công Tr là bạn bè quen biết ngoài xã hội, cùng nhau thành lập nhóm “SOS Toàn Cầu” do A làm nhóm trưởng, mục đích là hỗ trợ người dân gặp sự cố trên đường và phân luồng giao thông. Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 20 tháng 5 năm 2021, A, N, Tâm, N1, H, D, T1 và Tr hẹn gặp nhau rồi cùng điều khiển xe mô tô lưu thông trên các tuyến đường để thực hiện công việc như mục đích của nhóm. A một mình điều khiển xe mô tô hiệu Winer màu đỏ-đen-bạc biển số 18B2 – 659.32 dẫn đầu để cả nhóm đi theo sau tuần tra. Khi cả nhóm đến đường D6, khu dân cư T thuộc khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, H nhìn thấy Ngô Ngọc Th đang đi bộ trên đường có biểu hiện nghi vấn nên H và N1 chặn Th lại rồi thông báo cho A, T, Tr, N, D và T1 đến để kiểm tra và các thành viên đứng xung quanh Ngô Ngọc Th. Qua kiểm tra phát hiện Th có giấu 01 (một) cái nỏ thủy tinh dùng để sử dụng trái phép chất ma túy nên Nghĩa dùng dây rút nhựa mang theo sẵn và cùng D trói chặt hai tay Th ra phía sau lưng rồi cả nhóm gồm A, N, T, N1, H, D, T1 và Tr điều khiển xe mô tô cùng đưa Th đến trụ sở Công an phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương để giải quyết. Công an phường T xác định Th chỉ có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuy chứ không có hành vi vi phạm pháp luật khác nên đã lập hồ sơ xử lý vi phạm hành chính đối với Th theo quy định. Đồng thời chuyển báo cáo cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T xem xét, xử lý hành vi của Nguyễn Văn A, Tô Thanh T, Phạm Thành N, Lê Hoàng N1, Vũ Đình H, Lê Dương D, Nguyễn Tấn T1 và Nguyễn Công Tr về hành vi bắt người trái pháp luật.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2023/HS-ST ngày 13 tháng 01 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương đã quyết định:
Áp dụng khoản 1 Điều 157; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017,
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn A 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án, được khấu trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 05 tháng 5 năm 2022 đến ngày 08 tháng 5 năm 2022.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn xử phạt các bị cáo Phạm Thành N 07 (bảy) tháng tù, xử phạt các bị cáo Lê Dương D, Lê Hoàng N1, Vũ Đình H, Tô Thanh T, Nguyễn Tấn T mỗi bị cáo 07 (bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Bắt người trái pháp luật”, xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 20 tháng 01 năm 2023, bị cáo Nguyễn Văn A có đơn xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo. Tại phiên tòa, bị cáo xin hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu ý kiến: Đơn kháng cáo của bị cáo trong thời hạn luật định. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định hành vi phạm tội của bị cáo như cấp sơ thẩm đã xét xử là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo. Xét thấy, bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp thêm được tình tiết giảm nhẹ nào mới, mức hình phạt mà cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên không có căn cứ giảm nhẹ cho bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, có địa chỉ cư trú rõ ràng, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội do thiếu hiếu biết và vì lợi ích cộng đồng, không vụ lợi, việc không cách ly bị cáo ra ngoài xã hội cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, đủ điều kiện hưởng án treo nhưng cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn là nghiêm khắc. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo.
Công an phường T lập biên bản và ra quyết định xử lý vi phạm hành chính đối với Ngô Ngọc Th về hành vi vi phạm là có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là không đúng hành vi và thời gian thực hiện nên đề nghị Tòa án kiến nghị Công an thành phố T, tỉnh Bình Dương hủy quyết định xử lý vi phạm hành chính đối với Ngô Ngọc Th.
Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, bị cáo xin được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Kháng cáo của bị cáo trong thời hạn luật định, hợp lệ nên vụ án được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương, hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện việc điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Tòa án cấp sơ thẩm xác định: khoảng 20 giờ 30 phút ngày 20 tháng 5 năm 2021, tại đường D6, khu dân cư T thuộc khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Do nghi ngờ Ngô Ngọc Th là đối tượng nghi vấn trong việc trộm tài sản của người dân nên Nguyễn Văn A, Tô Thanh T, Lê Hoàng N1, Vũ Đình H, Lê Dương D, Nguyễn Tấn T 1 và Phạm Thành N đã có hành vi dùng dây rút nhựa trói tay Ngô Ngọc Th đưa về trụ sở Công an phường T, thành phố T để cho cơ quan chức năng giải quyết. Khi bị cáo và các đồng phạm phát hiện nghi ngờ ông Ngô Ngọc Th có dấu hiệu vi phạm pháp luật đã tự ý bắt ông Th thay cơ quan chức năng đã xâm phạm quyền tự do của công dân được pháp luật bảo vệ. Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn A và các đồng phạm đã đủ yếu tố cấu thành tội “Bắt người trái pháp luật” theo quy định tại khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo tội danh trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền tự do của cá nhân được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Về nhận thức, bị cáo nhận thức được hành vi bắt người là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, thể hiện ý thức xem thường pháp luật và bất chấp hậu quả.
Xét kháng cáo của bị cáo: tại cấp phúc thẩm, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp thêm được tình tiết giảm nhẹ nào mới, căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo là phù hợp và quyết định mức hình phạt là không nặng nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.
Xét kháng cáo xin hưởng án treo, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, có địa chỉ cư trú rõ ràng, bị cáo phạm tội do thiếu hiểu biết, thực hiện hành vi vì lợi ích công cộng không vụ lợi cho bản thân, bị cáo xử phạt mức hình phạt dưới 03 (ba) năm tù, việc không cách ly bị cáo ra ngoài xã hội cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, đủ điều kiện hưởng án treo theo hướng dẫn tại các Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn án treo theo Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Do đó, có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về việc chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm là phù hợp.
Công an phường T lập biên bản và ra quyết định xử lý vi phạm đối với Ngô Ngọc Th có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là không đúng hành vi và thời gian thực hiện nên Viện kiểm sát đề nghị Tòa án kiến nghị Công an thành phố T, tỉnh Bình Dương hủy quyết định xử lý vi phạm hành chính đối với Ngô Ngọc Th là có căn cứ. Hội đồng xét xử sẽ kiến nghị Công an thành phố T, tỉnh Bình Dương hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội số 270/QĐ ngày 27 tháng 5 năm 2021 của Công an phường T đối với Ngô Ngọc Th.
Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án (Sau đây viết là Nghị quyết số 326) và Danh mục Án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết này.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 344, Điều 345, điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo về xin hưởng án treo, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2023/HS-ST ngày 13 tháng 01 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương về biện pháp chấp hành hình phạt.
Áp dụng khoản 1 Điều 157; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017,
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn A 08 (tám) tháng tù về tội “Bắt người trái pháp luật” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 04 (bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm ngày 13 tháng 6 năm 2023.
Giao bị cáo Nguyễn Văn A về cho Ủy ban nhân dân phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo Nguyễn Văn A thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo không phải nộp.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.