vanban.org

Bản án 85/2023/HNGĐST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lâm Sới M được ly hôn với bị đơn ông Lý Hoàng C. Về con chung: Giao giao các cháu Lý Thị Huỳnh N (giới tính: Nữ), sinh ngày 28/3/20Y; Lý Khánh D (giới tính: Nam), sinh ngày 29/10/20R; Lý Khánh A (giới tính: Nữ), sinh ngày 29/8/20Ư và… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
  • Căn cứ chính? Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃVĨNH CHÂU
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2023/HNGĐ ST
Ngày 22/8/2023
V/v Ly hôn.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Thái Trung Nghĩa.

Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Anh Đô, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Diệp - Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 08/2023/TLST - HNGĐ ngày 30 tháng 01 năm 2023 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68F/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lâm Sới M, sinh năm 19U (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt);

Địa chỉ: Số nhà Q, khóm Cà S, Phường Y, thị xã Vĩnh C, tỉnh Sóc Trăng.

2. Bị đơn: Ông Lý Hoàng C, sinh năm 19Y (vắng mặt);

Địa chỉ: Số nhà U, khóm Vĩnh B, Phường Y, thị xã Vĩnh C, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 20/6/2022 nguyên đơn bà Lâm Sới M trình bày:

Năm 2006, bà Lâm Sới M và ông Lý Hoàng C được gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và được Ủy ban nhân dân Phường Y, thị xã Vĩnh C, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 09/8/2013. Trong thời gian sống chung với nhau có 04 đứa con chung tên: Lý Thị Huỳnh N (giới tính: Nữ), sinh ngày 28/3/20Y; Lý Khánh D (giới tính: Nam), sinh ngày 29/10/20R; Lý Khánh A (giới tính: Nữ), sinh ngày 29/8/20Ư và Lý Khánh H (giới tính: Nam), sinh ngày 17/5/20J. Mặc dù thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc, nhưng sau đó do bất đồng quan điểm trong cuộc sống và thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Xét thấy, tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không thể tiếp tục tồn tại và hiện nay vợ chồng không còn sống chung với nhau từ tháng 4 năm 2019 đến nay.

Nay nhận thấy hạnh phúc gia đình tan vỡ, không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không thành nên bà Lâm Sới M có yêu cầu giải quyết như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lâm Sới M được ly hôn với ông Lý Hoàng C.

- Về con chung: Bà Lâm Sới M yêu cầu được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng 01 đứa con tên Lý Khánh H (giới tính: Nam), sinh ngày 17/5/20J. Còn 03 đứa con tên Lý Thị Huỳnh N (giới tính: Nữ), sinh ngày 28/3/20Y và Lý Khánh D (giới tính: Nam), sinh ngày 29/10/20R, Lý Khánh A (giới tính: Nữ), sinh ngày 29/8/20Ư nếu muốn sống với bà Lâm Sới M thì bà M nuôi dưỡng. Bà Lâm Sới M không yêu cầu ông Lý Hoàng C phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Bà Lâm Sới M trình bày không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

- Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Đối với bị đơn ông Lý Hoàng C:

Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành thông báo thụ lý vụ án; thông báo mở phiên họp để kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của pháp luật và triệu tập hợp lệ đối với bị đơn ông Lý Hoàng C để tham gia phiên tòa nhưng ông Lý Hoàng C vẫn cố tình vắng mặt. Tòa án đã tiến hành mở phiên họp để kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 210 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Tòa án có thông báo kết quả mở phiên họp cho ông Lý Hoàng C biết.

Tại phiên tòa, vị Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu phát biểu ý kiến:

Về pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký chấp hành đúng quy định pháp luật. Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn chấp hành đúng quy định pháp luật. Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn theo quy định của pháp luật. Đối với bị đơn ông Lý Hoàng C đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông Lý Hoàng C theo quy định của pháp luật.

Về pháp luật nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lâm Sới M được ly hôn với bị đơn ông Lý Hoàng C.

+ Về con chung: Giao các cháu Lý Thị Huỳnh N (giới tính: Nữ), sinh ngày 28/3/20Y; Lý Khánh D (giới tính: Nam), sinh ngày 29/10/20R; Lý Khánh A (giới tính: Nữ), sinh ngày 29/8/20Ư và Lý Khánh H (giới tính: Nam), sinh ngày 17/5/20J cho bà Lâm Sới M tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cho đến đủ 18 tuổi.

+ Về cấp dưỡng: Bà Lâm Sới M không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

+ Về tài sản chung: Bà Lâm Sới M trình bày không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết, nên không xem xét giải quyết.

+ Về nợ chung: Bà Lâm Sới M trình bày không có, không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về pháp luật tố tụng:

. Nguyên đơn bà Lâm Sới M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: “Ly hôn” là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Tòa án thụ lý giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện của nguyên đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Đối với bị đơn ông Lý Hoàng C đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông Lý Hoàng C theo quy định của pháp luật.

Đối với nguyên đơn bà Lâm Sới M có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn bà Lâm Sới M theo quy định của pháp luật.

Về pháp luật nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà Lâm Sới M và ông Lý Hoàng C có đăng ký kết hôn đúng theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa bà Lâm Sới M và ông Lý Hoàng C là hợp pháp. Nguyên nhân dẫn đến ly hôn là do trong thời gian sống chung với nhau bà Lâm Sới M và ông Lý Hoàng C thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và không còn sống chung với nhau từ tháng 4 năm 2019 cho đến nay. Bà Lâm Sới M kiên quyết yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông Lý Hoàng C. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà Lâm Sới M và ông Lý Hoàng C lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào các Điều 51, 53, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Lâm Sới M được ly hôn với ông Lý Hoàng C.

Về con chung: Đối với các cháu Lý Thị Huỳnh N (giới tính: Nữ), sinh ngày 28/3/20Y; Lý Khánh D (giới tính: Nam), sinh ngày 29/10/20R; Lý Khánh A (giới tính: Nữ), sinh ngày 29/8/20Ư và Lý Khánh H (giới tính: Nữ), sinh ngày 17/5/20J hiện nay do bà Lâm Sới M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Xét thấy, bà Lâm Sới M có đủ điều kiện để chăm sóc, giáo dục các con trong môi trường lành mạnh, đảm bảo sự phát triển của con tốt về thể chất cũng như tinh thần. Đồng thời cũng phù hợp với nguyện vọng của các cháu Lý Thị Huỳnh N, Lý Khánh D và Lý Khánh A (trên 7 tuổi). Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 giao các cháu Lý Thị Huỳnh N (giới tính: Nữ), sinh ngày 28/3/20Y; Lý Khánh D (giới tính: Nam), sinh ngày 29/10/20R; Lý Khánh A (giới tính: Nữ), sinh ngày 29/8/20Ư và Lý Khánh H (giới tính: Nam), sinh ngày 17/5/20J cho bà Lâm Sới M tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cho đến đủ 18 tuổi.

. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Lâm Sới M không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Bà Lâm Sới M trình bày không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Bà Lâm Sới M trình bày không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Lâm Sới M phải chịu theo quy định của pháp luật.

Đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 và khoản 2 Điều 143; khoản 3 Điều 144; khoản 1 Điều 146; khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 và khoản 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Các Điều 51, 53, 56, 57, 58; 81; 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lâm Sới M được ly hôn với bị đơn ông Lý Hoàng C.

2. Về con chung: Giao giao các cháu Lý Thị Huỳnh N (giới tính: Nữ), sinh ngày 28/3/20Y; Lý Khánh D (giới tính: Nam), sinh ngày 29/10/20R; Lý Khánh A (giới tính: Nữ), sinh ngày 29/8/20Ư và Lý Khánh H (giới tính: Nam), sinh ngày 17/5/20J cho bà Lâm Sới M tiếp tục nuôi dưỡng cho đến đủ 18 tuổi.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Lâm Sới M không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Trong thời gian bà Lâm Sới M nuôi con, không ai có quyền ngăn cản sự thăm nom, chăm sóc, giáo dục của cha, mẹ đối với con chung.

4. Về tài sản chung: Bà Lâm Sới M trình bày không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

5. Về nợ chung: Bà Lâm Sới M trình bày không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

6. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Lâm Sới M phải chịu là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu số: 0006094 ngày 30/01/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu. Bà Lâm Sới M đã thực hiện xong nghĩa vụ nộp tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

7. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo đối với Bản án trong thời hạn 15 ngày, tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014)”.

Cỡ chữ