- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Cao Thịnh V - Bùi Thị H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Cao Thịnh V về tranh chấp ly hôn đối với bị đơn chị Bùi Thị H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 85/2023/HNGĐ-ST Ngày: 30-6-2023 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thương.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Kim Uyên;
2. Ông Trần Trung Hiếu.
- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Bương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy An - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 06 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 182/2023/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 05 năm 2023 về việc “tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 05/6/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 59/2023/QĐST-HNGĐ ngày 20/6/2023, giữa các đương sự:
1/ Nguyên đơn: Anh Cao Thịnh V, sinh năm 1990; thường trú: Số 35 (số cũ H26), đường số 3, KDC, tổ 8, khu phố B, phường B2, thành phố A, tỉnh Bình Dương; địa chỉ liên hệ: Số 292/33/34 Bình Lợi, phường 13, quận T2, Thành phố Hồ Chí Minh; Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
2/ Bị đơn: Chị Bùi Thị H, sinh năm 1989; thường trú: Số 35 (số cũ H26), đường số 3, KDC, tổ 8, khu phố B, phường B2, thành phố A, tỉnh Bình Dương; Vắng mặt không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện đề ngày 28/4/2023 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn anh Cao Thịnh V trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Cao Thịnh V và chị Bùi Thị H tự nguyện chung sống với nhau, tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B2, thị xã A (nay là thành phố A), tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 60 ngày 22/6/2018. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống tại phường B2, thị xã A (nay là thành phố A), tỉnh Bình Dương.
Thời gian đầu hai vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến cuối năm 2018 thì hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, cụ thể: do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống dẫn đến vợ, chồng thường xuyên cãi nhau, không có tiếng nói chung, không ai quan tâm đến cuộc sống của ai, tình cảm vợ chồng không còn. Cuộc sống hôn nhân càng ngày càng căng thẳng, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh V và chị H đã cố gắng hàn gắn tình cảm để xây dựng gia đình ấm no hạnh phúc nhưng không có kết quả nên đã sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay. Nay, anh V xác định không còn tình cảm với chị H nên yêu cầu được ly hôn với chị H.
Về con chung: Anh V khai không có con chung.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Anh V không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Đối với bị đơn chị Bùi Thị H: Quá trình tố tụng, bị đơn đã được Tòa án Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng, tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, yêu bị đơn để làm việc, lấy lời khai; tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; tham gia phiên tòa nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Đồng thời, bị đơn cũng không có ý kiến, yêu cầu gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Ngày 19/5/2023, Tòa án xác minh tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp, nguyên nhân mâu thuẫn giữa anh Cao Thịnh V và chị Bùi Thị H tại Hội Liên hiệp phụ nữ phường An Bình và được cung cấp như sau: Trước khi nộp đơn ly hôn tại Tòa án, anh Cao Thịnh V không có đơn yêu cầu Hội liên hiệp phụ nữ phường An Bình tiến hành hòa giải. Hội liên hiệp phụ nữ phường An Bình, thành phố Dĩ An cũng không có thông tin trình báo về mâu thuẫn giữa vợ, chồng anh Cao Thịnh V và chị Bùi Thị H. Vì vậy, về tình trạng quan hệ hôn nhân, nghề nghiệp, nguyên nhân mẫu thuẫn giữa anh, chị Hội liên hiệp phụ nữ phường An Bình không biết được.
- Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An trình bày quan điểm về việc tuân theo pháp luật, quan điểm giải quyết vụ án: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đúng theo quy định pháp luật. Đối với những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chấp hành đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự; bị đơn không chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Quá trình tố tụng, Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng yêu cầu bị đơn tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 18/5/2023 nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Nguyên đơn có đơn đề nghị không hòa giải, do vậy vụ án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn đã được triệu tập tham gia phiên tòa đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do, Tòa án căn cứ vào các Điều 227, 228 và 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Cao Thịnh V và chị Bùi Thị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường B2, thị xã A (nay là thành phố A), tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 60 ngày 22/6/2018 đúng với quy định của pháp luật, là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.
Anh V xác định vợ chồng chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên tranh cãi, hiện anh, chị đã sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay. Tòa án đã xác minh tình trạng hôn nhân tại Hội liên hiệp phụ nữ phường B2 nhưng Hội liên hiệp phụ nữ không biết nguyên nhân mâu thuẫn giữa vợ, chồng anh V và chị H. Quá trình tố tụng, Tòa án đã triệu tập chị H đến Tòa án để hòa giải hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng chị H không đến. Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn có cơ sở xác định trong cuộc sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, tình trạng hôn nhân đã trầm trọng và cả hai đều không muốn hàn gắn. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của anh V là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Đương sự khai không có con chung.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra xem xét.
Từ những phân tích trên có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An về quan điểm giải quyết vụ án.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Cao Thịnh V phải chịu án phí ly hôn theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 244, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ vào các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Cao Thịnh V về tranh chấp ly hôn đối với bị đơn chị Bùi Thị H.
1.1 Về hôn nhân: Anh Cao Thịnh V được ly hôn với chị Bùi Thị H [Theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 60 do Uỷ ban nhân dân phường An Bình, thị xã Dĩ An (nay là thành phố Dĩ An), tỉnh Bình Dương cấp ngày 22/6/2018].
1.2 Về con chung: Đương sự khai không có con chung.
1.3 Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
2. Án phí dân sự sơ thẩm: Anh Cao Thịnh V phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006369 ngày 11/5/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
3. Đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự .
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND TP. Dĩ An; - Chi cục THADS TP. Dĩ An; - TAND tỉnh Bình Dương; - Lưu: Hồ sơ vụ án, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN -CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thương |