- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Phùng Thị Hoàng Sa đối với ông Vũ Xuân Lượng.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 85/2023/HNGĐ-ST Ngày: 19/01/2023 V/v: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Linh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thị Tý.
2. Bà Bùi Diệu Huệ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Trà My, cán bộ Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Vân, Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1635/2022/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 482/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 379/2022/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Phùng Thị Hoàng Sa; Sinh năm: 1979; Địa chỉ thường trú: Số 5 (1 phần) Phạm Văn Hai, Phường 01, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bà Sa có đơn xin vắng mặt.
Bị đơn: Ông Vũ Xuân Lượng; Sinh năm: 1991; Địa chỉ thường trú: Phường Mai Hùng, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An. Địa chỉ tạm trú: 55 Đường số 19, Khu phố 19, phường Bình Hưng Hòa A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ông Lượng vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 03 tháng 10 năm 2022 của bà Phùng Thị Hoàng Sa, và bản tự khai của đương sự tại tòa cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ thì nội dung vụ án được xác định như sau:
Bà Phùng Thị Hoàng Sa là nguyên đơn trình bày:
Bà và ông Vũ Xuân Lượng có thời gian tìm hiểu, chung sống từ năm 2017 mới đi đến kết hôn. Hai bên đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 19 ngày 29/4/2021 của Ủy ban nhân dân Phường 1, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. Do không tìm hiểu kỹ nên chưa rõ hết tình tình của nhau, sau khi về chung sống một thời gian, hai bên không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống. Vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, cải vã do ông Lượng sống vô trách nhiệm, không quan tâm đến gia đình.
Sau rất nhiều lần khuyên can nhưng ông Lượng không thay đổi cách sống, thậm chí còn vô trách nhiệm nhiều hơn nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng nặng nề. Do mục đích hôn nhân không đạt được và tình cảm giữa hai người không còn nên bà Sa yêu cầu ly hôn để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra bà Sa không có ý kiến hay yêu cầu gì khác.
Vụ án không không tiến hành hòa giải được do vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Do đó, Tòa án đưa vụ án ra xét xử công khai ngày hôm nay.
Tại phiên tòa, phía nguyên đơn có đơn xin vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu. Riêng bị đơn tiếp tục vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Tân phát biểu ý kiến và kết luận: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Toà án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về thẩm quyền, thủ tục tố tụng. Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện đầy đủ và đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật về quyền, nghĩa vụ của đương sự tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn không thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Xét tình cảm vợ chồng bà Sa, ông Lượng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Sa. Về con chung không có nên không xét. Về tài sản chung và nợ chung: bà Sa xác nhận không có nên không xét đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Xét qua đơn xin ly hôn của bà Phùng Thị Hoàng Sa, cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, có cơ sở xác định đây là vụ kiện hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn”. Bị đơn ông Vũ Xuân Lượng có nơi cư trú tại số 55 Đường số 19, Khu phố 19, phường Bình Hưng Hòa A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Tân theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bà Phùng Thị Hoàng Sa có đơn xin vắng mặt, ông Vũ Xuân Lượng vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 và điểm b, khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Sa, ông Lượng là phù hợp.
Mặc dù Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông Vũ Xuân Lượng đến Tòa án để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật nhưng ông Lượng không đến Tòa và cũng không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà Sa. Có nghĩa là, bị đơn đã tự tước bỏ quyền phản đối yêu cầu của nguyên đơn đối với mình, tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình, nên bị đơn phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, thì: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Vì vậy, Hội đồng xét xử lấy yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn, lời khai của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xem xét giải quyết vụ án.
Về nội dung: Căn cứ theo giấy chứng nhận kết hôn số 19 ngày 29/4/2021 của Ủy ban nhân dân Phường 1, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh cùng lời khai của nguyên đơn về việc tự nguyện kết hôn nên có căn cứ xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Sa, ông Lượng là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Xét qua yêu cầu xin ly hôn bà Phùng Thị Hoàng Sa đối với ông Vũ Xuân Lượng. Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở để chấp nhận. Bởi lẽ, qua lời trình bày của nguyên đơn thì trong quá trình chung sống, vợ chồng bà Sa, ông Lượng đã phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo lời trình bày của bà Sa là do không tìm hiểu kỹ nên chưa rõ hết tình tình của nhau, sau khi về chung sống một thời gian, hai bên không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống. Vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, cải vã do ông Lượng sống vô trách nhiệm, không quan tâm đến gia đình. Theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình thì “vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc nhau, vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác” nhưng gia đình bà Sa ông Lượng lại không có những điều này, không đảm bảo được “tình nghĩa vợ chồng”. Tòa án cũng đã triệu tập ông Lượng đến Tòa để ông Lượng thực hiện các quyền, nghĩa vụ của bị đơn cũng như đã mở phiên hòa giải để tạo cơ hội cho vợ chồng hàn gắn tình cảm nhưng ông không đến tòa, không thể hiện thiện chí hòa giải với bà Sa. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà Sa và ông Lượng đã trầm trọng, không còn khả năng để hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay bà Sa yêu cầu được ly hôn với ông Lượng, căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở để chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Sa.
Về con chung: Bà Sa xác nhận không có nên Hội đồng xét xử không xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Sa xác nhận không có nên Hội đồng xét xử không xét.
Đối với ý kiến phát biểu tại phiên tòa của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh thấy rằng, các ý kiến và đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về hình thức và nội dung là phù hợp quy định của pháp luật, nên chấp nhận.
Về án phí: Bà Phùng Thị Hoàng Sa chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
- Căn cứ Điều 19, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Phùng Thị Hoàng Sa đối với ông Vũ Xuân Lượng.
Về quan hệ hôn nhân: bà Phùng Thị Hoàng Sa được ly hôn với ông Vũ Xuân Lượng.
Giấy chứng nhận kết hôn số 19 ngày 29/4/2021 của Ủy ban nhân dân Phường 1, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Phùng Thị Hoàng Sa và ông Vũ Xuân Lượng không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Bà Phùng Thị Hoàng Sa xác nhận không có nên Hội đồng xét xử không xét.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Phùng Thị Hoàng Sa xác nhận không có nên Hội đồng xét xử không xét.
4. Về án phí: Bà Phùng Thị Hoàng Sa chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn được cấn trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí bà Phùng Thị Hoàng Sa đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0009792 ngày 20/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Phùng Thị Hoàng Sa đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
5. Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; - Cơ quan thực hiện việc đăng ký kết hôn; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN –CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thùy Linh |