- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Hoài T - Tăng Văn L"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Chị Nguyễn Thị Hoài T.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 85/2023/HNGĐ-ST Ngày: 30/3/2023 V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƢƠNG, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Duy Phi
Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Ngọc, Ông Thái Khắc Thiệu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hường – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Công Hợi - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 3 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 267/2022/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2023/QĐXX-ST ngày 15 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hoài T, sinh 1997. Có mặt.
Địa chỉ: Xóm H, xã Y, huyện Đ, tỉnh Nghệ An.
Bị đơn: Anh Tăng Văn L, sinh năm 1997. Có mặt.
Địa chỉ: Xóm H, xã Y, huyện Đ, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và bản tự khai nguyên đơn Chị Nguyễn Thị Hoài T trình bày: Về quan hệ hôn nhân: Chị T kết hôn anh Tăng Văn L vào ngày 12/11/2019, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Yên Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn vợ chồng chị T sống hạnh phúc bên nhau được một thời gian ngắn thì nảy sinh mâu thuẫn và sống ly thân từ tháng 7 /2022 cho đến nay. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn trong cuộc sống vợ chồng chị T là do tính cách 02 (hai) người không hợp nhau, cuộc sống chung vợ chồng rất nặng nề, anh L hay ghen tuông vô cớ dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã, xúc phạm nhau. Do tình cảm vợ chồng không còn nên chị T đề nghị Tòa án giải quyết cho chị T được ly hôn với anh L.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị Hoài T và anh Tăng Văn L có 01 người con chung là Tăng Bảo P, sinh ngày 06/4/2020. Khi ly hôn chị T đề nghị Tòa án giao con chung cho chị T được trực tiếp nuôi dưỡng và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản: Chị Nguyễn Thị Hoài T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai, biên bản ghi lời khai và tại phiên tòa bị đơn anh Tăng Văn L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Tăng Văn L thống nhất về thời gian kết hôn, thời điểm phát sinh mâu thuẫn, việc vợ chồng sống ly thân. Về nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn trong cuộc sống vợ chồng không phải như chị T trình bày mà do chị T thường nhắn tin qua lại với người yêu cũ và anh L đã nhắc nhở nhiều lần nhưng chị T không nghe dẫn đến vợ chồng cãi vã xúc phạm nhau. Nay tình cảm vợ chồng không con nên anh L đồng ý ly hôn với chị T.
Về con chung: Anh Tăng Văn L và Chị Nguyễn Thị Hoài T có 01 người con chung là Tăng Bảo P, sinh ngày 06/4/2020. Khi ly hôn với chị T anh L đề nghị Tòa án giao con chung cho anh L được trực tiếp nuôi dưỡng và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản: Anh Tăng Văn L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Qua xem xét các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa cho thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có căn cứ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị Hoài T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và việc nuôi con chung Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự và thẩm quyền giải quyết là của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại thời điểm khởi kiện, bị đơn là anh Tăng Văn L cư trú tại Xóm H, xã Y, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về nội dung:
Xét đề nghị của nguyên đơn Chị Nguyễn Thị Hoài T về việc ly hôn và nuôi con chung Hội đồng xét xử thấy rằng:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hoài T và anh Tăng Văn L kết hôn với nhau vào ngày 14/02/2019, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Yên Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân hợp lệ theo quy định của pháp luật, cuộc sống chung vợ chồng hạnh phúc bên nhau được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính dẫn đến mâu thuẫn là do tính cách hai người không hợp nhau, cuộc sống vợ chồng rất nặng nề, thường xuyên xẩy ra cãi vã không tôn trọng nhau, chị T và anh L đã sống ly thân từ tháng 7 năm 2022 đến nay, trong thời gian ly thân mỗi người tự lo cho cuộc sống riêng của mình, giữa chị T và anh L không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau nên chị T đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh L, anh Tăng Văn L cũng đồng ý ly hôn với chị T.
Xét tình cảm giữa Chị Nguyễn Thị Hoài T và anh Tăng Văn L thực sự không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Chị Nguyễn Thị Hoài T là phù hợp với các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị Hoài T và anh Tăng Văn L đều yêu cầu Tòa án giao con chung cho mình được trược tiếp nuôi dưỡng và không yêu cầu người không trược tiếp nuôi dưỡng con chung cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử thấy rằng: Chị Nguyễn Thị Hoài T và anh Tăng Văn L có 01 con chúng là Tăng Bảo P, sinh ngày 06/4/2020, hiện nay cháu P đang sống cùng với chị T. Mặt khác, tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm con chung của chị T và anh L chưa đủ 03 (ba) tuổi nên chấp nhận yêu cầu của chị T, giao con chung là Tăng Bảo P cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là đúng với quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Tăng Văn L.
Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Hoài T và anh Tăng Văn L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 28, 35, 39 và Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Chị Nguyễn Thị Hoài T.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hoài T và anh Tăng Văn L được ly hôn.
Về con chung: Giao con chung Tăng Bảo P, sinh ngày 06/4/2020 cho chị Nguyễn Thị Hoài T cho đến khi cháu P trưởng thành (đủ 18 tuổi). Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Tăng Văn L.
Bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở việc thực hiện quyền này.
Về tài sản: Chị Nguyễn Thị Hoài T và anh Tăng Văn L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Án phí: Chị Nguyễn Thị Hoài T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khẩu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp (Chị T đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo BL số 0002701 ngày 11/10/2022 tại Chi cục THANDS huyện Đô Lương).
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND Đô Lương; - Chi cục THADS huyện Đô Lương; - UBND xã Yên Sơn, huyện Đô Lương; - Lưu HS. | TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đặng Duy Phi |