vanban.org

Bản án 85/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị V đối với anh Nguyễn Tiến L. Cho chị Lê Thị V được ly hôn với anh Nguyễn Tiến L.

Về con chung: giao con chung là cháu Nguyễn Lê Hoàng Yến, sinh ngày 18/8/2018 cho chị Lê Thị V trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Lê Thị V không yêu cầu anh Nguyễn Tiến L cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, yêu cầu nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị V đối với anh Nguyễn Tiến L. Cho chị Lê Thị V được ly hôn với anh Nguyễn Tiến L.
  • Căn cứ chính? Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 119 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 17/7/2023
Về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tháo.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Minh Quang;

2. Ông Nguyễn Thanh Nhu;

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Ngọc Huỳnh Như là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại tham gia phiên tòa: Ông Phan Hoàng Quí - Kiểm sát viên

Ngày 17 tháng 7 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án dân sự thụ lý số: 79/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2023 về việc “Ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 06 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 95/2023/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị V, sinh năm 1997 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn PT2, xã TH, huyện LH, tỉnh LĐ.

Chị Lê Thị V có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt đề ngày 19/4/2023.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Tiến L, sinh năm 1992 (Vắng mặt).

Địa chỉ: ấp 3, xã BT, huyện BĐ, tỉnh BT.

Anh Nguyễn Tiến L có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt đề ngày 05/7/2023.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn xin ly hôn đề ngày 15/02/2023, bản tự khai nguyên đơn chị Lê Thị V trình bày như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Tiến L cưới nhau trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Bình Thắng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre vào ngày 17/5/2018. Quá trình chung sống thời gian đầu có hạnh phúc đến cuối năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là cuộc sống không hòa hợp, bất đồng về tính cách, lối sống, quan điểm sống nhiều lần cãi vã. Chị và anh L đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay. Nay, chị thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, không thể hàn gắn được với anh L nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Tiến L.

- Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Lê Hoàng Yến, sinh ngày 18/8/2018. Hiện cháu Nguyễn Lê Hoàng Yến đang sống cùng với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Không có.

- Về nợ chung: Không có.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại bản tự khai đề ngày 19/4/2023, anh Nguyễn Tiến L trình bày như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Lê Thị V cưới nhau trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Bình Thắng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre vào năm 2018. Quá trình chung sống thời gian đầu có hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là cuộc sống vợ chồng không hòa hợp, thường xuyên bất đồng quan điểm. Anh và chị V đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay. Nay, chị Lê Thị V yêu cầu được ly hôn với anh, anh đồng ý ly hôn.

- Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Lê Hoàng Yến, sinh ngày 18/8/2018. Khi ly hôn, anh L yêu cầu được nuôi các con chung và không yêu cầu chị V cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Không có.

- Về nợ chung: Không có.

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại có ý kiến:

Quá trình tiến hành tố tụng Thẩm phán, Thư ký, Hội thẩm nhân dân thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Các đương sự được bảo đảm quyền và nghĩa vụ của mình đúng luật định. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử, chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị V về việc xin ly hôn với anh Nguyễn Tiến L. Về con chung: Chị V được tiếp tục nuôi cháu Nguyễn Lê Hoàng Yến, sinh ngày 18/8/2018, ghi nhận sự tự nguyện ly hôn của chị V không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Nguyên đơn chị Lê Thị V khởi kiện bị đơn anh Nguyễn Tiến L. Anh Nguyễn Tiến L có hộ khẩu thường trú và đang sinh sống tại ấp 3, xã Bình Thắng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Chị Lê Thị V có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt đề ngày 19/4/2023. Anh Nguyễn Tiến L có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt đề ngày 05/7/2023. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng là phù hợp quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị V và anh Nguyễn Tiến L cưới nhau vào ngày 17/5/2018 trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Bình Thắng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre theo quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa chị V và anh L được công nhận là hợp pháp.

Sau khi kết hôn cuộc sống, chị V và anh L sống không hạnh phúc do bất đồng tính cách, quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên xảy ra cãi vả. Chị V và anh L đã sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Điều đó chứng tỏ hôn nhân giữa chị V và anh L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chị V yêu cầu ly hôn với anh L là có căn cứ, phù hợp. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị V.

Về con chung: Quá trình sống chung, chị Lê Thị V và anh Nguyễn Tiến L có 01 con chung tên Nguyễn Lê Hoàng Yến, sinh ngày 18/8/2018. Khi ly hôn, chị V và anh L đều yêu cầu được nuôi con chung Nguyễn Lê Hoàng Yến. Xét thấy, cháu Nguyễn Lê Hoàng Yến hiện đang sống cùng với chị V, có cuộc sống sinh hoạt, học tập ổn định. Do đó, để đảm bảo quyền và lợi ích của con chung, căn cứ theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử giao cháu Nguyễn Lê Hoàng Yến cho chị Lê Thị V trực tiếp nuôi dưỡng.

Ghi nhận sự tự nguyện của chị Lê Thị V không yêu cầu anh Nguyễn Tiến L cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung; nợ chung: Chị Lê Thị V và anh Nguyễn Tiến L khai thống nhất không có nên Hội đồng xét xử không xét đến.

Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Căn cứ theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-HĐTP quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, chị Lê Thị V phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, 147, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 119 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-HĐTP quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị V đối với anh Nguyễn Tiến L. Cho chị Lê Thị V được ly hôn với anh Nguyễn Tiến L.

2. Về con chung: giao con chung là cháu Nguyễn Lê Hoàng Yến, sinh ngày 18/8/2018 cho chị Lê Thị V trực tiếp nuôi dưỡng.

Ghi nhận sự tự nguyện của chị Lê Thị V không yêu cầu anh Nguyễn Tiến L cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Nguyễn Tiến L không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai được cản trở.

Chị Lê Thị V trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh Nguyễn Tiến L trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 và Điều 119 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và quyết định việc thay đổi yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung; nợ chung: Chị Lê Thị V và anh Nguyễn Tiến L khai thống nhất không có, nên không xét đến.

4. Về án phí:

Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Lê Thị V phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị V đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0002199 ngày 16 tháng 3 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại. Vậy, chị Lê Thị V đã nộp đủ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Chị Lê Thị V, anh Nguyễn Tiến L vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ