vanban.org

Bản án 85/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Lê Yến Phi "Ly hôn" Lê Văn Hoàng"
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẾN LỨC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LONG AN
Bản án số: 85/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 07-8-2023
V/v: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC - TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa Ph ên tòa: Bà Thái Thị Thanh Thúy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Văn Tám

2. Ông Nguyễn Ngọc Ẩn

- Thư ký Ph ên tòa: Ông Trương Văn Bình Em – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An.

Ngày 07 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 122/2023/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 57/2023/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Lê YP, sinh năm 1988; Địa chỉ: Ấp 3, xã Th, huyện B, tỉnh Long An (vắng mặt do có đơn xin vắng mặt).

Bị đơn: Ông Lê V H, sinh năm 1984; Địa chỉ: Ấp 3, xã Th, huyện B, tỉnh Long An (vắng mặt không rõ lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện ngày 22/02/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Bà Nguyễn Lê YP trình bày:

Năm 2013, bà và ông H tự quen biết nhau, sau khi phát sinh tình cảm thì tiến tới xác lập quan hệ vợ chồng, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Th, huyện B, tỉnh Long An ngày 15 tháng 10 năm 2014. Bà Ph trình bày, sau khi cưới thì vợ chồng chung sống hạnh phúc và có một con chung. Đến năm 2017, quan hệ vợ chồng bắt đầu có nhiều mâu thuẫn do tính tình không hòa hợp, không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng không tôn trọng nhau nên thường xuyên cãi vã làm cho cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, dẫn đến vợ chồng sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay. Thời gian ly thân, ông bà cũng có gặp mặt nhưng giữa ông bà đã không còn quan tâm nhau, khả năng hàn gắn là không có. Hiện nay, tình cảm không còn, không ai có thiện chí tiếp tục mối quan hệ hôn nhân này nên bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu giải quyết cho bà được ly hôn với ông Lê Th H.

Về nuôi con chung: Ông bà có một con chung tên Lê Nguyễn N N, sinh ngày 15/8/2014. Hiện nay con chung đang ở với bà, khi ly hôn thì bà yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản chung và nợ chung: Bà Ph trình bày không tranh chấp về tài sản chung và xác định vợ chồng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Con chung tên Lê Nguyễn N N trình bày nguyện vọng: Trong trường hợp ba mẹ ly hôn thì cháu có nguyện vọng được sống với mẹ là Nguyễn Lê Yến Ph .

Bị đơn ông Lê Th H: Ông H vắng mặt và không cung cấp cho Tòa án ý kiến trình bày cũng như tài liệu, chứng cứ có liên quan đến vụ án.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông H vắng mặt và không cung cấp cho Tòa án bất cứ tài liệu, chứng cứ nào có liên quan đến vụ án. Cho nên, Tòa án lập biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và biên bản không hòa giải được. Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu không tiến hành hòa giải. Do đó, Tòa án không tiếp tục hòa giải và đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.

Tại phiên tòa: Bà Ph vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, ông H vắng mặt không rõ lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về pháp luật tố tụng:

Bà Nguyễn Lê YP khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Lê Th H, căn cứ Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, xác định quan hệ pháp luật tố tụng là “Tranh chấp ly hôn”, thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm thuộc Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An.

Về xác định tư cách tham gia tố tụng: Bà Nguyễn Lê YP có yêu cầu khởi kiện đối với ông Lê Th H, xác định bà Ph là nguyên đơn, ông H là bị đơn.

Về sự có mặt, vắng mặt của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do, không có yêu cầu giải quyết vụ án vắng mặt. Do đó, Tò án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo căn cứ tại Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về pháp luật nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về quan hệ hôn nhân: Bà Ph và ông H có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Th, huyện B, tỉnh Long An ngày 15 tháng 10 năm 2014 nên quan hệ hôn nhân giữa ông bà là hợp pháp kể từ thời điểm đăng ký kết hôn. Bà Ph trình bày, sau một thời gian chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm nên thường xuyên cãi vã làm cho cuộc sống hôn nhân ngày càng có nhiều rạn nứt. Ông bà cũng đã sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay, thời gian ly thân thì vợ chồng cũng có gặp mặt nhưng không còn quan tâm chăm sóc nhau để hàn gắn mối quan hệ hôn nhân. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành gửi cho bị đơn bản sao Đơn khởi kiện cùng toàn bộ tài liệu chứng cứ do nguyên đơn nộp; tống đạt các văn bản tố tụng gồm Thông báo thụ lý, Thông báo Ph ên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo thực hiện quyền đưa ra yêu cầu phản tố, Thông báo Tòa án đã thu thập được tài liệu chứng cứ và và Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải để bị đơn biết và thực hiện nhưng Tòa án không nhận được bất kỳ tài liệu chứng cứ, ý kiến hay yêu cầu gì của bị đơn trong vụ án. Tuy nhiên, ông H đều vắng mặt và không gửi cho Tòa án văn bản nêu ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của bà Ph , không thể hiện thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết vụ án. Xét thấy, hôn nhân của bà Ph và ông H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Ph .

Về nuôi con chung: Theo lời trình bày của bà Ph cùng các chứng cứ do bà Ph cung cấp thì ông bà có 01 con chung tên Lê Nguyễn N N, sinh ngày 15/8/2014. Khi ông bà ly thân, con chung do bà trực tiếp nuôi dưỡng, cuộc sống đã ổn định, khả năng bà Ph chăm sóc con chung được đảm bảo hơn. Ngoài ra, cháu Ngọc cũng có nguyện vọng là muốn sống với mẹ nếu ba mẹ ly hôn. Mặt khác, ông H cũng không có ý kiến hay yêu cầu gì trong vụ án này nên Tòa án không xem xét. Từ những căn cứ, để đảm bảo sự phát triển bình thường của cháu Ngọc, giao bà Ph trực tiếp nuôi dưỡng con chung là phù hợp với Điều 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ông H vắng mặt, các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản chung và nợ chung: Bà Ph trình bày không tranh chấp về tài sản chung và xác định vợ chồng không có nợ chung. Ông H vắng mặt và không có văn bản nêu ý kiến về vấn đề này nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bà Ph phải chịu 300.000đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng các Điều 56, 57, 58, 81 và Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà Nguyễn Lê YP về việc “Ly hôn” đối với ông Lê Th H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho Bà Nguyễn Lê YP được ly hôn với ông Lê Th H.

2. Về nuôi con chung: Giao con chung tên Lê Nguyễn N N, sinh ngày 15/8/2014 cho Bà Nguyễn Lê YP được trực tiếp nuôi dưỡng, ông Lê Th H không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con chung, Toà án có thể ra quyết định thay đổi việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng khi có yêu cầu của một hoặc hai bên.

Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí: Bà Nguyễn Lê YP phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí mà bà Ph đã nộp là 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009594 ngày 10/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Lức, tỉnh Long An. Bà Nguyễn Lê YP đã nộp đủ án phí.

4. Về quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo đối với bản án: Án xét xử sơ thẩm công khai, đương sự có mặt tại Ph ên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án và đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

5. Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ