vanban.org

Bản án 85/2023/DS-ST — Tranh chấp quyền sử dụng đất

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh D ơng Lê Anh K về việc yêu cầu bị đơn bà Nguy n Thị Mộng Thu tháo dở một phần mái trái trả anh K phần đất lấn chiếm có diện tích 2,4m2 thuộc phạm vi các mốc M11.

Xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất số 98, tờ bản đồ số 14 của anh D ơng Lê Anh K với thửa đất số 86, tờ bản đồ số 14 của bà Nguy n Thị Mộng T, cả hai thửa đất đều tọa lạc tại xã A, huyện L, tỉnh Đồng Tháp là đ ờng nối các điểm từ M10.M11.M16.M15.M17 đến M6. Các điểm mốc được thể hiện… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất giữa anh Dương Lê Anh K và bà Nguyễn Thị Mộng T"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh D ơng Lê Anh K về việc yêu cầu bị đơn bà Nguy n Thị Mộng Thu tháo dở một phần mái trái trả anh K phần đất lấn chiếm có diện tích 2,4m2 thuộc phạm vi các mốc M11.
  • Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN L
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2023/DS-ST
Ngày: 02 - 11 - 2023
V/v tranh chấp về ranh giới
quyền sử d ng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Mỹ Xuân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguy n Thị h ng.

2. Ông Nguy n Vạn Thế.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Di m Quỳnh - Th ký Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguy n Hoàng Duy - Kiểm sát viên.

Vào ngày 02 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện L xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 61/2023/TLST-DS, ngày 13 tháng 3 năm 2023, về việc “Tranh chấp dân sự về ranh giới quyền sử dụng đất” theo Quyết định đ a vụ án ra xét xử số: 236/2023/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 10 năm 2023, và Quyết định hoãn phiên tòa số 194/2023/QĐST-DS, ngày 18 tháng 10 năm 2023, giữa các đ ơng sự:

- Nguyên đơn: Anh D ơng Lê Anh K, sinh năm: 1985; Địa chỉ: Số 612, ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang. Anh K có mặt tại phiên tòa.

- Bị đơn: Bà Nguy n Thị Mộng T, sinh năm 1963; Địa chỉ: Số 225, ấp A, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Bà T11 vắng mặt tại phiên tòa không rõ lý do.

- Ng ời có quyền l i, nghĩa vụ liên quan:

1/ Chị Nguy n Thị Bích D, sinh năm: 1982. Chị D vắng mặt tại phiên tòa không rõ lý do;

2/ Chị Nguy n Thị Diệu H, sinh năm: 1987. Chị H vắng mặt tại phiên tòa không rõ lý do.

Cùng địa chỉ: Số 225, ấp A, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 13/02/2023 và quá trình giải quyết v án nguyên đơn anh Dương Lê Anh K trình bày:

Năm 2020, anh D ơng Lê Anh K nhận chuyển nh ng quyền sử dụng đất đối với diện tích 93,2m2 (trong đó đất ở 80m2, đất CLN là 13,2m2), thuộc thửa đất số 98 và thửa đất số 85 c ng tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại xã A, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Hiện anh K đang trực tiếp quản lý sử dụng cả hai thửa đất này, hai thửa đất trên liền kề nhau và không có ranh giới tách biệt.

hần đất thửa số 98 của anh K tiếp giáp với thửa đất số 86, tờ bản đồ số 14 do bà Nguy n Thị Mộng T đứng tên quyền sử dụng. Khi anh K nhận chuyển nh ng có đo đạc thực tế, bà T11 có thống nhất ranh đất với anh K. Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng, anh K cho rằng bà T1 có hành vi không tôn trọng ranh giới quyền sử dụng giữa hai thửa đất và lấn chiếm phần đất thuộc thửa số 98 của ranh K. Hiện nay, anh K xác định bà T11 lấn sang phần đất của mình với diện tích lấn chiếm là 2,4m2 thuộc phạm vi các mốc M11.M12.M13.M14.M17.M15.M16 về M11 theo Sơ đồ đo đạc phần đất tranh chấp do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L ký duyệt ngày 21/6/2023. Trên diện tích đất tranh chấp hiện có một phần mái trái khung sắt tiền chế, mái l p tole.

Ngày 01/12/2022, Ủy ban nhận dân xã A, huyện L có mời anh K và bà T11 đến hòa giải tranh chấp thì bà T11 có thừa nhận lấn qua đất của anh K và đồng ý tháo dở một phần mái trái trả lại đất cho anh K nh ng đến nay vẫn không thực hiện.

Tại phiên tòa, anh K cho rằng khi anh K nhận chuyển nh ng phần đất này, bà T11 đã xây dựng phần mái trái tiền chế làm nhà bếp sử dụng trong gia đình. Anh K đã san lắp phần đất nhận chuyển nh ng xây gạch bó nền xung quanh chuẩn bị để sau này xây nhà ở. Sau khi, anh K bó nền phần đất của mình thì nhận thấy nếu anh K xây dựng nhà thì phần mái trái nhà bếp của bà T11 có nguy cơ đổ n ớc m a vào chân t ờng nhà anh K gây tiếng ồn, h hại t ờng nhà anh K; và bụi tre của bà T11 s rụng lá lên mái nhà làm h h ng mái nhà của anh K sau này. Do anh K chuẩn bị xây nhà nên anh K khởi kiện yêu cầu bà T11 phải cắt bớt một phần mái trái và xác định ranh giới giữa phần đất của anh K và bà T11. Anh K còn yêu cầu bà T11 di dời đ ờng dây dẫn điện từ trụ điện tr ớc đất anh K nối vào nhà bà T11 ra kh i phần đất phía tr ớc nhà anh K. Anh K thống nhất chỉ trình bày nội dung yêu cầu này để biết chứ không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

Anh K giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, anh K yêu cầu bà T11 tháo dở một phần mái trái trả anh K phần đất lấn chiếm có diện tích 2,4m2 thuộc phạm vi các mốc M11.M12.M13.M14.M17.M15.M16 về M11; và yêu cầu Tòa án xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa thuộc thửa đất số 98, tờ bản đồ số 14 của anh K với thửa đất số 86, tờ bản đồ số 14 của bà T1 là đ ờng nối các điểm từ M10.M11.M12.M13.M14.M17.M6.

Anh K thống nhất với Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 05/05/2023, Sơ đồ đo đạc hiện trạng kèm theo Biên bản; Biên bản định giá ngày 24/8/2023 của Hội đồng định giá do Tòa án thành lập theo Quyết định số 61/2023/QĐ-ĐG, ngày 30/6/2023 của Tòa án.

Trong quá trình giải quyết v án ph a đơn trình bày:

Giáp ranh với thửa đất số 86 của bà T11 là thửa đất số 98, tờ bản đồ số 14 do anh D ơng Lê Anh K đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nguồn gốc phần đất thửa số 86 là do anh K nhận chuyển nh ng quyền sử dụng đất của em gái bà T11 là bà Nguy n Thị Hoài Thu vào năm 2022. Đối với mái trái khung tiền chế, l p tole mà anh K cho rằng bà T11 đã lấn chiếm qua đất anh K, là do bà T11 dựng làm bếp ăn cho gia đình từ năm 2017 tr ớc khi anh K nhận chuyển nh ng đất, nên bà T11 cho rằng mình không có lấn chiếm đất của anh K. Đối với bụi tre là của ba bà T11 trồng trên đất của bà T11 từ tr ớc năm 1975 đến nay (bụi tre hiện nay bà T11 đang sử dụng).

Bà T11 sử dụng phần đất của mình từ năm 2005 đến nay, còn anh K mới nhận chuyển nh ng đất từ năm 2022 nên không có việc bà T11 lấn chiếm đất của anh K. Do đó, bà T11 không đồng ý việc việc anh K yêu cầu bà T11 trả lại diện tích đất lấn chiếm.

Bà T11 đã đ c triệu tập h p lệ tham gia phiên tòa nh ng vắng mặt không rõ lý do.

- Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan ch Nguyễn Th B ch D và ch Nguyễn Th Diệu H đ được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng v ng m t kh ng r lý do

- Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát iểu:

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử, Th ký phiên tòa đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của ng ời tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án các đ ơng sự chấp hành đúng quy định

Về việc giải quyết vụ án: Viện kiểm sát nhân dân huyện L có Yêu cầu số 300/YC-VKS-DS, ngày 24/10/2023 để yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ. Nh ng đến nay, hồ sơ vụ án vẫn ch a thể hiện các tài liệu chứng cứ mà Viện kiểm sát đề nghị thu thập nên Kiểm sát viên không phát biểu về nội dung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đ c thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ranh chấp tranh giới quyền sử dụng đất với bị đơn. Từ đó xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, quy định tại Khoản 9 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự, quan hệ tranh chấp dân sự này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện, quy định tại Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Do các diện tích đất đối t ng tranh chấp tọa lạc tại huyện L nên Tòa án nhân dân huyện L thụ lý và giải quyết vụ án là đúng quy định tại Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn bà Nguy n Thị Mộng T, những ng ời có quyền l i, nghĩa vụ liên quan là chị Nguy n Thị Bích D và chị Nguy n Thị Diệu H đã đ c Tòa án triệu tập h p lệ đến tham gia phiên tòa, nh ng vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt, nên Tòa án xét xử vắng mặt bà T11, chị Di m và chị H là ph h p với quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về nguồn gốc của phần đất của anh K và bà T11 đều có ý kiến trình bày rõ ràng, không mâu thuẫn và tranh chấp gì về nội dung này nên không xem xét.

Việc anh K xác lập quyền sử dụng hai thửa đất số 98, 85 c ng tờ bản đồ 14 thông qua việc nhận chuyển nh ng từ chị em của bị đơn là bà T1, và bà T11 đ c nhận tặng cho từ chị em của mình là h p pháp. Về trình tự thủ tục cấp quyền sử dụng cho anh K đối với hai thửa đất 98, 85 c ng tờ bản đồ 14 và cho bà T11 đối với thửa đất số 86, tờ bản đồ 14 là đúng theo quy định. Nội dung này đ c chứng minh bằng tài liệu chứng cứ mà Tòa án thu thập đ c theo yêu cầu của nguyên đơn gồm: Hồ sơ cấp quyền sử dụng đất các thửa đất đã nêu của cả hai bên và Công văn số 3642/CNV ĐKĐĐHLV-KTĐC, ngày 22/9/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L.

Từ đó đủ cơ sở xác định quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 98, 85 c ng tờ bản đồ 14 của anh D ơng Lê Anh K và quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 86 c ng tờ bản đồ 14 của bà Nguy n Thị T là h p pháp.

Về quá trình sử dụng đất.

Nội dung này do các đ ơng sự trình bày, lời trình bày của các bên không mâu thuẫn, các bên đ ơng sự c ng không có ý kiến phản bác nhau, và c ng ph h p với hồ sơ cấp đất do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L cung cấp theo yêu cầu của Tòa án, nên đủ cơ sở xác định bà T1 đã sử dụng phần đất này từ năm 2005 và anh K mới nhận chuyển nh ng và vào khai thác sử dụng đất của mình từ năm 2022.

Về hiện trạng sử dụng đất và phần đất tranh chấp:

Theo lời trình bày của các đ ơng sự, và yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn, xác định phần diện tích tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất nằm giữa thửa đất số 98, tờ bản đồ 14 của nguyên đơn là anh D ơng Lê Anh K và thửa đất số 86, tờ bản đồ 14 của bà Nguy n Thị Mộng T.

Theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 05/05/2023, Sơ đồ đo đạc hiện trạng kèm theo Biên bản đ c Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L, ký duyệt ngày 21/6/2023 (Sơ đồ đo đạc thực tế ngày 21/6/2023), diện tích đất tranh chấp ranh giới giữa hai bên là 2,4m2 thuộc phạm vi các mốc M11.M12.M13.M14.M17.M15.M16 về M11 theo Sơ đồ đo đạc thực tế ngày 21/6/2023.

Về yêu cầu của nguyên đơn.

Nguyên đơn là anh D ơng Lê Anh K cho rằng bị đơn là bà Nguy n Thị Mộng T lấn chiếm quyền sử dụng đất của mình với diện tích cụ thể là 2,4m2 nh đã nêu, và anh K xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất số 98, tờ bản đồ 14 của mình và thửa đất số 86 tờ bản đồ 14 của bà T11 là các đ ờng th ng nối các mốc M10.M11.M12.M13.M14.M17.M6 theo Sơ đồ đo đạc thực tế ngày 21/6/2023. Anh K căn cứ vào Biên bản hòa giải tranh chấp đất đai giữa anh K và bà T11 tại Ủy ban nhân dân xã A với nội dung: qua việc vận động của Hội đồng hòa giải, bà T11 đồng ý cho anh K cắt mái tole làm máng xối dẫn n ớc m a ra phía sau; và việc dự đoán tình hình sử dụng đất dựa vào hiện trạng thực tế, mà anh K cho rằng nếu mình xây dựng nhà thì bị ảnh h ởng đến t ờng, mái nhà sau này. Ngoài ra anh K không cung cấp tài liệu chứng cứ gì để xác định bà T11 có hành vi lấn chiếm quyền sử dụng đất nh anh K đã xác định khi Tòa án xem xét thẩm định tại chỗ.

Ngoài ra, sau khi đối chiếu diện tích đ c cấp quyền sử dụng và diện tích đo đạc thực tế khi Tòa án xem xét thẩm định tại chỗ đối với phần đât của nguyên đơn và bị đơn cho thấy:

- Diện tích đ c cấp quyền sử dụng thửa đất của anh D ơng Lê Anh K đối với thửa đất số 98, tờ bản đồ số 14 là 93,2 m2; thửa đất của thửa đất số 85, tờ bản đồ số 14 là 55,5 m2. Tổng cộng cả hai thửa là 148,8 m2. Nh ng kết quả đo đạc thực tế phần đất do anh K đang quản lý sử dụng (thuộc hai thửa đất số 98 và 85 c ng tờ bản đồ số 14) có diện tích là 141,0 m2 (ch a bao gồm phần đất tranh chấp với bà T1), thiếu 7,8m2.

- Diện tích đ c cấp quyền sử dụng thửa đất của bà Nguy n Thị Mộng T đối với thửa đất số 86, tờ bản đồ số 14 là 153,5 m2. Nh ng kết quả đo đạc thực tế phần đất do bà T1 đang quản lý sử dụng (thuộc hai thửa đất số 86, tờ bản đồ số 14) có diện tích là 142,1 m2 (ch a bao gồm phần đất tranh chấp với anh K), thiếu 11,4m2.

Theo nội dung Công văn số 3642/CNV ĐKĐĐHLV-KTĐC, ngày 22/9/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L xác định việc phần đất đo đạc thực tế thiếu diện tích so với diện tích cấp quyền sử dụng là do Nhà n ớc làm công trình đ ờng đal nông thôn.

hần đất tranh chấp là 2,4m2, do anh K tự xác định, trên diện tích này có một phần mái trái của bà T11 dựng từ tr ớc khi anh K vào sử dụng đất. Việc anh K nhận chuyển nh ng quyền sử dụng phần đất này từ năm 2022, anh K đã xây bó nền kiên cố, bà T11 sử dụng đất và dựng mái trái tiền chế từ tr ớc đó, khoảng năm 2005, nội dung này anh K c ng thừa nhận, nên không có căn cứ xác định bà T11 có hành vi lấn chiếm ranh giới khi sử dụng đất liền kề với anh K nh anh K xác định.

Từ những phân tích trên, xác định anh K khởi kiện yêu cầu tranh chấp tranh giới với bà T11 đòi lại diện tích đất lấn chiếm là 2,4m2 và yêu cầu xác định ranh giới giữa đất của anh K và bà T1 nh trên, nh ng anh K không có chứng cứ chứng minh việc bà T11 có hành vi lẫn chiếm nh anh K xác định. Đồng thời anh K chỉ căn cứ vào dự đoán cho hiện trạng sử dụng đất s gây thiệt hại cho anh K khi sau này anh K xây dựng nhà, đây là tình tiết ch a xảy ra không thể làm căn cứ xác định có việc lấn chiếm đất. Căn cứ vào hiện trạng sử dụng đất đã ổn định không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và giữ nguyên hiện trang sử dụng đất là ph h p với quy định tại Điều 175 của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về ranh giới giữa các bất động sản nh sau:

“1 Ranh giới giữa các ất động sản liền kề được xác đ nh theo th a thuận ho c theo quyết đ nh của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Ranh giới cũng có thể được xác đ nh theo tập quán ho c theo ranh giới đ tồn tại từ 30 năm trở lên mà kh ng có tranh chấp

Không được lấn, chiếm, thay đổi mốc giới ngăn cách, kể cả trường hợp ranh giới là kênh, mương, hào, r nh, ờ ruộng Mọi chủ thể có nghĩa v t n trọng, duy trì ranh giới chung

2. Người sử d ng đất được sử d ng kh ng gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng từ ranh giới của thửa đất phù hợp với quy đ nh của pháp luật và kh ng được làm ảnh hưởng đến việc sử d ng đất của người khác

Người sử d ng đất chỉ được trồng cây và làm các việc khác trong khu n viên đất thuộc quyền sử d ng của mình và theo ranh giới đ được xác đ nh; nếu rễ cây, cành cây vượt quá ranh giới thì phải xén rễ, c t, tỉa cành phần vượt quá, trừ trường hợp có th a thuận khác

Lời phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa là h p lý. Tuy nhiên, do diện tích đất tranh chấp quá nh để thể hiện cụ thể các mốc giới trên sơ đồ đo đạc theo yêu cầu của Viện kiểm sát, ngoài ra căn cứ vảo hiện trạng sử dụng đất đã ổn định đã đ c thể hiện đầy đủ trên Sơ đồ đo đạc thực tế ngày 21/6/2023. Xét nội dung yêu cầu thu thập thêm chứng cứ của Viện kiểm sát là không cần thiết nên không chấp nhận. Hội đồng xét xử căn cứ vào tài liệu chứng cứ có trong hồ sồ vụ án để giải quyết vụ án theo quy định.

Về chi phí tố tụng: Do nguyên đơn có yêu cầu Tòa án xem xét thẩm định tại chỗ và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không đ c chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 20/12/2016 của Ủy ban th ờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không đ c chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

6] Về quyền kháng cáo, thời hạn kháng cáo thực hiện theo quy định tại các điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 9 Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a, c khoản 1 Điều 39; Điều 91; Điều 92; khoản 1 Điều 147; Điều 227; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các điều 174, 175, 176, 246 Bộ luật dân sự; Điều 170, 171 và khoản 1 Điều 203 Luật đất đai; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thờng vụ Quốc hội về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh D ơng Lê Anh K về việc yêu cầu bị đơn bà Nguy n Thị Mộng Thu tháo dở một phần mái trái trả anh K phần đất lấn chiếm có diện tích 2,4m2 thuộc phạm vi các mốc M11.M12.M13.M14.M17.M15.M16 về M11; và yêu cầu Tòa án xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất số 98, tờ bản đồ số 14 của anh K với thửa đất số 86, tờ bản đồ số 14 của bà T1 là đ ờng nối các điểm từ M10.M11.M12.M13.M14.M17 đến M6.

2. Xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất số 98, tờ bản đồ số 14 của anh D ơng Lê Anh K với thửa đất số 86, tờ bản đồ số 14 của bà Nguy n Thị Mộng T, cả hai thửa đất đều tọa lạc tại xã A, huyện L, tỉnh Đồng Tháp là đ ờng nối các điểm từ M10.M11.M16.M15.M17 đến M6.

Các điểm mốc được thể hiện theo Biên ản xem xét thẩm đ nh tại ch của Tòa án nhân dân huyện L ngày 05/05/2023, và Sơ đồ đo đạc hiện trạng kèm theo được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L ký duyệt ngày 21/ /2023

Ranh giới quyền sử dụng đất giữa các đ ơng sự đ c xác định theo chiều th ng đứng từ không gian xuống lòng đất. Các bên đ ơng sự có nghĩa vụ tôn trọng di dời các tài sản, công trình và vật kiến trúc khác của mình có trên phần đất v t quá phạm vi ranh đất đã đ c xác định. Các đ ơng sự đ c đến cơ quan Nhà n ớc có thẩm quyền để điều chỉnh lại quyền sử dụng đất và đăng ký quyền sử dụng theo quy định của pháp luật.

2. Về chi phí tố tụng: Anh D ơng Lê Anh K phải chịu phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản với số tiền 3.863.000 đồng Ba triệu, tám trăm sáu mươi a nghìn đồng , anh K đã nộp và chi xong.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Anh D ơng Lê Anh K phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng . đ c khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0016483, ngày 07/3/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện L. Anh K đã nộp xong.

4. Anh D ơng Lê Anh K có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đối với các đ ơng sự vắng mặt tại phiên tòa đ c quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đ c bản án hoặc bản án đ c niêm yết theo quy định.

5. Tr ờng h p bản án đ c thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ng ời đ c thi hành án dân sự, ng ời phải thi hành án dân sự có quyền th a thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị c ỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a , 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đ c thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ