vanban.org

Bản án 85/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 30/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyeân boá: Bị cáo Dương Tấn K phạm tội: “Vi phạm qui định về tham

gia giao thông đường bộ” Aùp duïng điểm a, b, c, đ khoản 2 Đieàu 260; ñieåm b, s khoaûn 1 Đieàu 51; Điều Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Dương Tấn K phạm tội: “Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ” - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyeân boá: Bị cáo Dương Tấn K phạm tội: “Vi phạm qui định về tham
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 48 Bộ luật Hình sự
TOØA AÙN NHAÂN DAÂN
HUYEÄN BAÛO LAÂM
TÆNH LAÂM ÑOÀNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án soá 85/2022/HSST
Ngaøy: 30-9-2022.

NHAÂN DANH

NÖÔÙC COÄNG HOØA XAÕ HOÄI CHUÛ NGHÓA VIEÄT NAM

TOØA AÙN NHAÂN DAÂN HUYEÄN BAÛO LAÂM, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Vôùi thaønh phaàn Hoäi ñoàng xeùt xöû sô thaåm goàm coù:

Thaåm phaùn – Chuû toïa Peân toøa: OÂng Nguyeãn Đình Phong.

Caùc Hoäi thaåm nhaân daân:

- Ông: Nguyễn Văn Hải.

- Ông: K’ Tré.

Thư ký Pên tòa: Ông Trương Quang Vũ – Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện

B.L, tỉnh Lâm Đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B.L, tỉnh Lâm Đồng tham gia Pên

tòa: Ông Lê Hữu Việt Phú – Kiểm sát viên.

Ngaøy 30 thaùng 9 naêm 2022 taïi Hoäi tröôøng Tòa án nhân dân, huyeän Baûo

Laâm, tænh Laâm Ñoàng xeùt xöû sô thaåm công khai vuï aùn hình söï thuï lyù soá 74/2022/TLST-HS ngaøy 16/9/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2022/QĐXXST-HS ngày 19/9/2022 ñoái với bị cáo:

Họ và tên: Dương Tấn K ; Sinh ngày 16/7/1989 tại Quảng Ngãi.

NKTT: Thôn An Mô, xã Đ Lợi, huyện M.Đ, tỉnh Quảng Ngãi;

Chỗ ở: Thôn 10, xã L.N, huyện B.L, tỉnh Lâm Đồng

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Giới tính: Nam;

Nghề nghiệp: Làm cửa sắt; Trình độ học vấn: 10/12;

Con ông: Dương Tấn D (Sn: 1940); Con bà: Trần Thị N (Sn: 1941). Hiện

sống tại Thôn An Mô, xã Đ Lợi, huyện M.Đ, tỉnh Quảng Ngãi.

Vợ: Trần Thị N X (Sn: 1992). Hiện sinh sống tại Thôn 10, xã L.N, huyện

B.L, tỉnh Lâm Đồng. Con : Có 01 con sinh năm 2021.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 24/4/2022 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công

an huyện B.L, tỉnh Lâm Đồng. “Bị cáo có mặt tại Pên tòa”.

* Người bị hại:

1. Anh K’ Minh T sinh năm: 2003 (chết)

Địa chỉ: Thôn 4, xã L.N, huyện B.L, tỉnh Lâm Đồng

2. Chị K Lin Đ, sinh năm: 2007 (chết)

Địa chỉ: Thôn 4, xã L.N, huyện B.L, tỉnh Lâm Đồng

Đại diện người bị hại: Bà K Rội (mẹ), sinh năm: 1977 và ông K’ Thanh (bố), sinh năm: 1978.

Địa chỉ: Thôn 4, xã L.N, huyện B.L, tỉnh Lâm Đồng

( Bà K Rội và ông K’ Thanh có mặt ).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Trần Thị N X , sinh năm: 1993

Địa chỉ: Thôn 10, xã L.N, huyện B.L, tỉnh Lâm Đồng ( Có mặt ).

2. Anh Lê P, sinh năm: 1977

Địa chỉ: Thôn 1, xã L.N, huyện B.L, tỉnh Lâm Đồng ( Có mặt ).

3. Anh Lê S, sinh năm: 1982

Địa chỉ: Thôn 1, xã L.N, huyện B.L, tỉnh Lâm Đồng ( Có mặt ).

* Người làm chứng:

1. Anh Trần Đ, sinh năm: 1968

Địa chỉ: Tổ 20, phường Lộc Phát, Tp. B.L, tỉnh Lâm Đồng ( Vắng mặt ).

2. Anh Phạm Phùng, sinh năm: 1973

Địa chỉ: Thôn 10, xã L.N, huyện B.L, tỉnh Lâm Đồng ( Có mặt ).

3. Chị Huỳnh Thị Bé, sinh năm: 1971

Địa chỉ: Thôn 10, xã L.N, huyện B.L, tỉnh Lâm Đồng ( Vắng mặt ).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại Pên tòa, nội dung vụ án

được tóm tắt N sau: Vào trưa ngày 24/4/2022, Dương Tấn K uống rượu tại thôn 1, xã L.N, huyện B.L đến 15h30’ cùng ngày thì nghỉ. K đi xe mô tô đến tiệm cửa sắt của ông Lê S thấy xe ba gác (không có biển kiểm soát) của ông Lê P Đng để trong tiệm của ông S. K tự ý lấy xe ba gác và điều khiển xe để chạy về nhà bố mẹ vợ ở thôn 10, xã L.N, huyện B.L.

Khi đến đoạn đường thuộc thôn 10, xã L.N, huyện B.L do đoạn đường hẹp

nên K điều khiển xe ba gác đi ở khu vực giữa đường và lấn sang phần đường bên trái. Lúc này, K phát hiện phía trước có 01 xe môtô BKS 49M1-014.91 trên xe có K’ Minh Tđiều khiển chở theo K Lin Đ lưu thông theo chiều ngược lại. K thấy phần đường bên phải theo hướng đi của mình có ổ gà nên K tiếp tục đánh lái qua trái theo hướng đi để tránh thì va chạm với xe môtô BKS 49M1-014.91, làm xe mô tô và K’Minh T K Lin Đ ngã xuống đường. Sau khi xảy ra tai nạn, biết mình đi lấn đường nên K hoảng sợ và tiếp tục điều khiển xe ba gác bỏ chạy được khoảng 400m thì ông Trần Đ đuổi theo gọi K quay lại hiện trường N ng K không quay lại mà tiếp tục đi về nhà tại thôn 10, xã L.N tắm rửa, thay đồ, ăn cơm. Đến khoảng 18h00’ cùng ngày K điều khiển xe ba gác đến tiệm cửa sắt của ông S để xe ba gác lại và lấy xe mô tô của mình quay về nhà. Tại nhà, K nghe anh Phạm Phùng kể việc những người bị tai nạn giao thông lúc chiều ( do K gây ra) bị thương nặng. Nghe vậy, K dự định đi đầu thú N ng chưa kịp đi thì Công an huyện B.L đến làm việc và K thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

Tại các Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 92 và 93/2022-KLPY-

PC09 ngày 26/4/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng kết luận: Nạn nhân K’Minh Tchết do chấn thương ngực kín trong vụ tai nạn giao thông. Nạn nhân K Lin Đ chết do chấn thương sọ não trong vụ tai nạn giao thông.

Tiến hành đo nồng độ cồn đối với Dương Tấn K , kết quả: 0.259mg/l khí thở;

Test ma túy, kết quả: Âm tính.

Quá trình khám nghiệm hiện trường xác định: Hiện trường vụ án là đoạn

đường liên thôn, thuộc thôn 10, xã L.N, huyện B.L, tỉnh Lâm Đồng. Đường được trải bê tông nhựa, tương đối bằng phẳng, đường thẳng, rộng 3.5m, áp dụng cho 02 chiều lưu thông, ở giữa đường không có vạch sơn phân tuyến làn đường, hai bên lề đường đất rộng 1,5m, không có biển báo hiệu giao thông. Hiện trường vụ tai nạn được mô tả theo hướng từ đường Hùng Vương - TT Lộc Thắng đi thôn 4 – xã L.N. Lấy trụ điện gắn công-tơ điện hộ nhà ông Hoàng Văn Luyến ở phía trước bên phải hiện trường theo hướng mô tả làm điểm mốc. Xác định được các vị trí N sau:

+ Vị trí xe mô tô biển số 49M1-014.91 ngã sau khi tai nạn (số 1) xe ngã nghiêng

bên phải, nằm trên lề đường đất bên trái theo hướng khám nghiệm, đầu xe quay về hướng đi đường Hùng Vương - TT Lộc Thắng, đuôi xe quay về hướng đi thôn 4 – L.N; hình chiếu tâm đầu trục bánh sau và trước cách mép chuẩn 0,3m và 0,2m, cách điểm mốc 9,4m.

+ Khu vực vết màu đỏ (nghi là máu nạn nhân) (số 2), có kích thước 1,0m x 0,1m,

không rõ hình dạng, nằm bên trái trong sân nhà dân theo hướng khám nghiệm; tâm cách mép chuẩn 4,7m, và đến trục sau xe mô tô (số 1) là 5,6m.

+ Vị trí tay nắm cao su tay lái bên trái (số 3) nằm trên mặt đường ngay mép

chuẩn cách tâm khu vực (số 2) 7,5m.

+ Vị trí chốt khóa nắp thùng xe , bằng kim loại (số 4) nằm trên mặt đường cách

mép chuẩn 0,7m, cách vị trí (số 3) 8,3m.

- Tại Kết luận giám định số 441/KL-KTHS ngày 28/4/2022, Phòng PC09

Công an tỉnh Lâm Đồng, kết luận:

+ Vùng va chạm đầu tiên trên mặt đường giữa xe mô tô biển số 49M1 -

014.91 và xe ba gác (không biển số, số máy LX136ML*QC073423*) thuộc làn đường bên phải theo hướng lưu thông từ thôn 4, xã L.N, huyện B.L, tỉnh Lâm Đồng về hướng đường Hùng Vương, TT. Lộc Thắng, huyện B.L, tỉnh Lâm Đồng (thuộc phần đường lưu thông của xe mô tô biển số 49M1 – 014.91);

+ Dấu vết va chạm: Dấu vết trượt xước tại mặt trước thanh kim loại liên kết

với tay lái bên trái xe mô tô biển số 49M1 – 014.91 phù hợp với dấu vết trượt xước kim loại tại mặt trước khóa khung thùng xe phía trước bên trái xe ba gác (không biển số, số máy LX136ML*QC073423*);

+ Chiều hướng lưu thông: Vào thời điểm xảy ra tai nạn giao thông, xe mô tô

biển số 49M1 – 014.91 lưu thông theo hướng từ thôn 4, xã L.N, B.L về hướng đường Hùng Vương, TT Lộc Thắng, B.L, Lâm Đồng).

+ Vào thời điểm xảy ra tai nạn giao thông, xe ba gác (không biển số, số máy

LX136ML*QC073423*) lưu thông theo hướng từ đường Hùng Vương, TT Lộc Thắng, huyện B.L về hướng thôn 4, xã L.N, B.L, Lâm Đồng.

+ Tốc độ: Không đủ cơ sở kết luận tốc độ của xe mô tô biển số 49M1 –

014.91 ngay trước khi xảy ra tai nạn giao thông. Không đủ cơ sở kết luận tốc độ của xe ba gác (không biển số, số máy LX136ML*QC073423*) ngay trước khi xảy ra tai nạn giao thông.

Tại Pên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội N nội

dung bản cáo trạng.

Đại diện của người bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền chi phí mai

táng và chi phí xe mô tô là 290.000.000 đồng, số tiền này bị cáo đã bồi thường tiếp tục yêu cầu bị cáo phải bồi thường tiền tổn thất tinh thần là 1.700.000.000 đồng.

Cáo trạng số 79/CT-VKSBL ngày 15/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân

huyện B.L, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Dương Tấn K về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a, b, c, đ khoản 2 điều 260 Bộ luật hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, b, c, đ khoản 2 Điều 260; điểm b, s

khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Dương Tấn K từ 06 đến 07 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khoản tiền chi phí

mai táng cho phù hợp với pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận tiền tổn thất tinh thần từ 40 đến 50 tháng lương cơ bản.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố

tụng hình sự :

Đối với 01 xe ba gác không BKS, số máy LX136ML*QC073423* không có

giấy tờ gì nên tịch thu sung công.

Đối với 01 xe mô tô BKS 49M1-014.91, nhãn hiệu Citi@, màu sơn: nâu; số

máy: VTT14JL1P50FMG007967; số khung: RPKDCH2PK H009991 giao cho Công an huyện B.L xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với 01 (một) tay nắm cao su tay lái bên trái xe mô tô hình trụ rỗng, chiều

dài 10,7cm, đường kính bên trong 2,2cm, đường kính bên ngoài một đầu 3,3cm, một đầu 4,4cm. Tay nắm cao su nêu trên được thu giữ tại hiện trường, quá trình điều tra xác định là của xe mô tô 49M1-014.91 và 01 (một) vật bằng kim loại (có cấu tạo giống chốt khóa nắp thùng của xe ba gác) dài 24cm, có thể gấp lại được; được thu giữ tại hiện trường, quá trình điều tra xác định vật kim loại nêu trên không có liên quan đến vụ án do không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.

Lưu theo hồ sơ vụ án 03 (ba) thẻ nhớ gồm:

+ 01 thẻ nhớ màu đen ghi chữ Micro SD HC Class 4Gb lưu trữ 01 đoạn

video dung lượng 22,8Mb ghi lại diễn biến vụ tai nạn giao thông.

+ 01 thẻ nhớ màu đen ghi chữ Micro SD HC Class 4Gb lưu trữ 02 đoạn

video (có dung lượng 54,13Mb và 58,84Mb) ghi lại việc di chuyển của Dương Tấn K trước thời điểm xảy ra vụ tai nạn giao thông.

+ 01 thẻ nhớ màu đen ghi chữ Micro SD HC Class 4Gb lưu trữ 01 đoạn

video dung lượng 19,6Mb ghi lại diễn biến trước và sau vụ tai nạn giao thông.

Trả lại cho bị cáo K 01 căn cước công dân số 051089000884 mang tên

Dương Tấn K , sinh ngày 16/7/1989 cấp ngày 10/4/2021.

Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo K phải chịu án phí theo quy

định của pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình

phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại Pên tòa, Hội đồng xét xử nhận định N sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công

an huyện B.L; Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân huyện B.L trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại Pên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án: Lời khai của bị cáo tại Pên tòa phù hợp với lời khai

tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào trưa ngày 24/4/2022, Dương Tấn K uống rượu tại thôn 1, xã L.N, huyện B.L đến 15h30’ cùng ngày thì nghỉ. Bị cáo K đến tiệm cửa sắt của ông Lê S thấy xe ba gác của ông Lê P Đng để trong tiệm của ông S. Bị cáo K tự ý lấy xe ba gác và điều khiển xe để chạy về nhà bố mẹ vợ ở thôn 10 L.N, huyện B.L. Khi đến đoạn đường thuộc thôn 10, xã L.N, B.L do đoạn đường hẹp nên bị cáo K điều khiển xe ba gác đi ở khu vực giữa đường và lấn sang phần đường bên trái. Lúc này, bị cáo K phát hiện phía trước có 01 xe môtô BKS 49M1-014.91 trên xe có K’ Minh Tđiều khiển chở theo K Lin Đ lưu thông theo chiều ngược lại, bị cáo K thấy phần đường bên phải theo hướng đi của mình có ổ gà nên bị cáo K tiếp tục đánh lái qua trái theo hướng đi để tránh thì va chạm với xe môtô BKS 49M1-014.91, làm xe mô tô và K’Minh T K Lin Đ ngã xuống đường. Hậu quả: K’Minh Tchết do chấn thương ngực kín K Lin Đ chết do chấn thương sọ não.

Bị cáo Dương Tấn K không có giấy phép lái xe A3 có nồng độ cồn

0.259mg/l khí thở N ng điều khiển xe ba gác (không có biển kiểm soát) không đi đúng làn đường quy định (lấn trái) dẫn đến tai nạn làm chết 02 người. Sau khi gây tai nạn, bị cáo điều khiển xe bỏ trốn khỏi hiện trường. Do vậy Viện Kiểm sát nhân dân huyện B.L truy tố bị cáo Dương Tấn K về tội “Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, b, c, đ khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đánh giá tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội nêu trên

của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, hậu quả làm chết hai người, lỗi hoàn toàn do bị cáo không đi đúng làn đường, do vậy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng N tại

Pên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại để khắc phục hậu quả, do đó bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi xảy ra tai nạn, bị cáo K cùng gia đình đã

thường cho gia đình người bị hại số tiền 290.000.000đ, tại Pên tòa bị cáo yêu cầu xem xét lại các khoản tiền chi phí mai táng cho phù hợp với pháp luật, không chấp nhận tiền tổn thất tinh thần theo yêu cầu của đại diện người bị hại.

Qua xem xét yêu cầu của bị cáo đại diện của bị hại thì chấp nhận các khoản

bồi thường sau: Tiền bù đắp tổn thất về tinh thần 120 tháng lương cơ bản cho 02 người x 1.490.000 đồng = 178.800.000 đồng, tiền bồi thường xe mô tô 10.000.000 đồng, tiền xây mộ 27.000.000 đồng, tiền mua trái cây 5.000.000 đồng, tiền trà nước 5.000.000 đồng, tiền tắm xác 5.000.000 đồng, tiền thuê rạp 19.800.000 đồng, tiền mua vòng hoa 3.000.000 đồng, tiền xây huyệt 10.000.000 đồng, tiền mua quan tài 28.000.000 đồng, tiền mua hương, chân đèn nhang 5.000.000 đồng, tổng cộng là 296.600.000 đồng, bị cáo đã bồi thường được 290.000.000 đồng, còn lại 6.600.000 đồng bị cáo K phải tiếp tục bồi thường cho gia đình bị hại. Các khoản tiền không chấp nhận bồi thường gồm: Tiền chi phí ăn uống rượu, bánh, kẹo, thuốc lá, cà phê, tiền đọc kinh, tiền làm mái che mộ, tiền lắp đá chân mộ.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe ba gác không BKS, số máy

LX136ML*QC073423* thuộc sở hữu của ông Lê P. Qua làm việc ông P trình bày mua xe ba gác nêu trên ở TP Hồ Chí Minh, không có giấy tờ gì nên tịch thu sung công.

Đối với 01 xe mô tô BKS 49M1-014.91, nhãn hiệu Citi@, màu sơn: nâu; số

máy: VTT14JL1P50FMG007967; số khung: RPKDCH2PK H009991. Theo trình bày của gia đình K’Minh Thống: xe mô tô nêu trên thuộc sở hữu của K’Minh T được K’Minh Tmua vào năm 2021. Tuy nhiên gia đình không rõ khi Tmua có giấy tờ gì hay không nên giao cho Công an huyện B.L xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với 01 (một) tay nắm cao su tay lái bên trái xe mô tô hình trụ rỗng, chiều

dài 10,7cm, đường kính bên trong 2,2cm, đường kính bên ngoài một đầu 3,3cm, một đầu 4,4cm. Tay nắm cao su nêu trên được thu giữ tại hiện trường, quá trình điều tra xác định là của xe mô tô 49M1-014.91 và 01 (một) vật bằng kim loại (có cấu tạo giống chốt khóa nắp thùng của xe ba gác) dài 24cm, có thể gấp lại được; được thu giữ tại hiện trường, quá trình điều tra xác định vật kim loại nêu trên không có liên quan đến vụ án do không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.

Lưu theo hồ sơ vụ án 03 (ba) thẻ nhớ gồm:

+ 01 thẻ nhớ màu đen ghi chữ Micro SD HC Class 4Gb lưu trữ 01 đoạn

video dung lượng 22,8Mb ghi lại diễn biến vụ tai nạn giao thông.

+ 01 thẻ nhớ màu đen ghi chữ Micro SD HC Class 4Gb lưu trữ 02 đoạn

video (có dung lượng 54,13Mb và 58,84Mb) ghi lại việc di chuyển của Dương Tấn K trước thời điểm xảy ra vụ tai nạn giao thông.

+ 01 thẻ nhớ màu đen ghi chữ Micro SD HC Class 4Gb lưu trữ 01 đoạn

video dung lượng 19,6Mb ghi lại diễn biến trước và sau vụ tai nạn giao thông.

Do không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo K 01 căn cước công dân

số 051089000884 mang tên Dương Tấn K , sinh ngày 16/7/1989 cấp ngày 10/4/2021.

Xét ý kiến trình bày luận tội và quan điểm giải quyết vụ án của viện kiểm

sát nhân dân huyện B.L thấy rằng: Mức hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với nhân thân và tính chất mức độ của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra.

Về án phí: Bị cáo Dương Tấn K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án

phí Dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyeân boá: Bị cáo Dương Tấn K phạm tội: “Vi phạm qui định về tham

gia giao thông đường bộ”

Aùp duïng điểm a, b, c, đ khoản 2 Đieàu 260; ñieåm b, s khoaûn 1 Đieàu 51; Điều

Điều 38 Boä luaät hình sự.

Xử phạt bị cáo Dương Tấn K 06 ( S ) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày

24/4/2022.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, Điều 585, Điều 591 Bộ luật

Dân sự và Điều 48 Bộ luật hình sự: Buộc bị cáo Dương Tấn K phải bồi thường cho gia đình bị hại là bà K Rội và ông K’ Thanh tiền là 296.600.000 ( Hai trăm chín mươi S triệu S trăm ngàn ) đồng, gồm: Tiền bù đắp tổn thất về tinh thần 178.800.000 đồng, tiền bồi thường xe mô tô 10.000.000 đồng, tiền xây mộ 27.000.000 đồng, tiền mua trái cây 5.000.000 đồng, tiền trà nước 5.000.000 đồng, tiền tắm xác 5.000.000 đồng, tiền thuê rạp 19.800.000 đồng, tiền mua vòng hoa 3.000.000 đồng, tiền xây huyệt 10.000.000 đồng, tiền mua quan tài 28.000.000 đồng, tiền mua hương, chân đèn nhang 5.000.000 đồng. Bị cáo K đã bồi thường được 290.000.000 đồng, còn lại 6.600.000 (S triệu S trăm ngàn ) đồng bị cáo K phải tiếp tục bồi thường.

3. Veà xöû lyù vaät chöùng: Aùp duïng Đieàu 47 Boä luaät hình söï, Đieàu 106 Boä

luaät toá tuïng hình söï:

Tịch thu sung công 01 xe ba gác không BKS, số máy

LX136ML*QC073423*

Chuyển Công an huyện B.L xử lý theo quy định của pháp luật 01 xe mô tô

BKS 49M1-014.91, nhãn hiệu Citi@, màu sơn: nâu; số máy: VTT14JL1P50FMG007967; số khung: RPKDCH2PK H009991.

Tịch thu tiêu hủy 01 tay nắm cao su tay lái bên trái xe mô tô hình trụ rỗng,

chiều dài 10,7cm, đường kính bên trong 2,2cm, đường kính bên ngoài một đầu 3,3cm, một đầu 4,4cm và 01 vật bằng kim loại (có cấu tạo giống chốt khóa nắp thùng của xe ba gác) dài 24cm, có thể gấp lại được.

Lưu theo hồ sơ vụ án 03 (ba) thẻ nhớ gồm:

+ 01 thẻ nhớ màu đen ghi chữ Micro SD HC Class 4Gb lưu trữ 01 đoạn

video dung lượng 22,8Mb ghi lại diễn biến vụ tai nạn giao thông.

+ 01 thẻ nhớ màu đen ghi chữ Micro SD HC Class 4Gb lưu trữ 02 đoạn

video (có dung lượng 54,13Mb và 58,84Mb) ghi lại việc di chuyển của Dương Tấn K trước thời điểm xảy ra vụ tai nạn giao thông.

+ 01 thẻ nhớ màu đen ghi chữ Micro SD HC Class 4Gb lưu trữ 01 đoạn

video dung lượng 19,6Mb ghi lại diễn biến trước và sau vụ tai nạn giao thông.

Trả lại cho bị cáo K 01 căn cước công dân số 051089000884 mang tên

Dương Tấn K , sinh ngày 16/7/1989 cấp ngày 10/4/2021.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và

Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Dương Tấn K phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 330.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa

vụ liên quan có mặt tại Pên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày 30/9/2022 để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

(Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ được kháng cáo phần có liên

quan).

“Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.”.

Cỡ chữ