- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Khắc N - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Khắc N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 85/2022/HS-ST Ngày 25-5-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Thu Hà.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hà Văn Tiêm.
2. Ông Tòng Văn Loan.
- Thư ký phiên toà: Ông Cầm Việt Hùng, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 90/2022/TLST-HS ngày 13 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2022/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:
Lê Khắc N, sinh ngày 02 tháng 8 năm 1984 tại huyện MS, tỉnh Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Tổ 3, phường CC, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông Lê Khắc N, sinh năm 1953 và con bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1958. Bị cáo có vợ là Đinh Thị A, sinh năm 1984 và chưa có con; Tiền án: Không, tiền sự: không. Nhân thân: Năm 2012 bị TAND thành phố Sơn La xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (đã được xóa án tích). Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11 tháng 01 năm 2022 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 16 giờ 50 phút ngày 11/01/2022, tại khu vực Bản C, phường CS, thành phố Sơn La, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế, ma túy
- Công an thành phố Sơn La phối hợp với Công an phường CS - Công an thành phố Sơn La phát hiện, bắt quả tang Lê Khắc N đang có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ: 01 gói giấy màu trắng có in chữ, bên trong có chứa cục, bột màu trắng (N tự giác lấy từ túi quần phía trước bên phải đang mặc ra giao nộp, khai nhận là ma túy Heroine cất giữ để sử dụng).
Ngày 12/01/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La đã thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng và lấy mẫu giám định, kết quả: Cục, bột màu trắng thu giữ của Lê Khắc N khi bị bắt quả tang có khối lượng 0,21 gam. Lấy 0,14 gam làm mẫu gửi giám định, ký hiệu V. Còn lại 0,07 gam niêm phong lưu kho, ký hiệu H.
Kết luận giám định số 267 ngày 13/01/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu V là ma túy; loại Heroine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,14 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,21 gam, loại Heroine”.
Quá trình điều tra bị cáo Lê Khắc N khai nhận: Do bản thân sử dụng chất ma túy, khoảng 16 giờ 00 phút ngày 11/01/2022, Lê Khắc N đi xe ô tô buýt đì từ nhà tại tổ 3, phường CC, thành phố Sơn La đến khu vực ngã tư 4G thuộc tổ 6, phường CS, thành phố Sơn La tìm mua ma tuý về sử dụng. Tại đây, N hỏi và mua được của 01 người nam giới (N không biết tên, tuổi, địa chỉ) 01 gói ma túy Heroine với số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng). Sau đó, N cất giấu gói ma túy vừa mua được vào túi quần phía trước bên phải đang mặc rồi đi bộ đến khu vực bản C, phường CS, thành phố Sơn La tìm nơi sử dụng thì bị Cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng.
Về nguồn gốc 0,21 gam Heroine N khai nhận mua của một người nam giới không biết tên, tuổi, địa chỉ tại khu vực tổ 6, phường CS, thành phố Sơn La, ngoài lời khai của bị cáo không còn nguồn tài liệu chứng cứ nào khác. Do đó, Cơ quan CSĐT - Công an thành phố Sơn La không có căn cứ để tiếp tục điều tra, xác minh.
Tại bản cáo trạng số: 102/CT-VKSTP ngày 13/4/2022, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La đã truy tố bị cáo Lê Khắc N về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo Lê Khắc N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lê Khắc N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Lê Khắc N từ 15 đến 18 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh giấy màu trắng có in chữ; Mẫu lưu H=0,07 gam.
Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Khắc N nhận tội và không có ý kiến tranh luận gì với vị đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Sơn la, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, thực hiện đúng thủ tục tố tụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa đã thể hiện:
Ngày 11/01/2022, Lê Khắc N đã có hành vi cất giữ trái phép 0,21 gam Heroine nhằm mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang tại khu vực bản C, phường CS, thành phố Sơn La.
Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, bị cáo hoàn toàn nhất trí với hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ:
- Lời khai nhận tội của bị cáo;
- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 17 giờ 00 phút ngày 11/01/2022 tại khu vực bản C, phường CS, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La đối với Lê Khắc N cùng vật chứng thu giữ là 01 gói giấy màu trắng có in chữ, bên trong có chứa cục bột màu trắng có tổng khối lượng 0,21 gam Heroine;
- Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong kiểm tra vật chứng và niêm phong lại; Biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại; Kết luận giám định số 267 ngày 13/01/2022 của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của ông Đồng Trọng S, sinh năm 1958; HKTT: Tổ 3, phường CS, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La là người chứng kiến việc bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với kết quả điều tra.
Đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Khắc N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo Lê Khắc N phạm tội với tổng khối lượng 0,21 gam Heroine đã vi phạm tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, có mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm và thuộc trường hợp nghiêm trọng.
Hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Do đó cần có mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, cần cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có tác dụng răn đe giáo dục và phòng ngừa chung, trên cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về nhân thân: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, có 01 tiền án đã được xóa án tích.
Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Bị cáo làm nghề lao động tự do, không thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, xét việc áp dụng hình phạt bổ sung không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về nguồn gốc 0,21 gam Heroine, Lê Khắc N khai mua của một người nam giới không biết tên, tuổi, địa chỉ. Do vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, điều tra mở rộng vụ án.
Vật chứng vụ án: Đối với 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh giấy màu trắng có in chữ; Mẫu lưu ký hiệu H=0,07 gam, là vật Nhà Nước cấm lưu hành và vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy, căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Về án phí: Do hành vi phạm tội của bị cáo buộc bị cáo Lê Khắc N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tuyên bố bị cáo Lê Khắc N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Lê Khắc N 16 (mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt, tạm giữ, tạm giam (ngày 11/01/2022).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh giấy màu trắng có in chữ; Mẫu lưu H=0,07 gam, đã được niêm phong số 083020 theo đúng quy định của pháp luật.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/4/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 21 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14: Buộc bị cáo Lê Khắc N phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Lê Khắc N được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 25/5/2022). Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Sơn La;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND thành phố Sơn La (2);
- THADS thành phố Sơn La;
- Công an thành phố Sơn La;
(đã ký)
- THAPT (2);
- Sở Tư pháp tỉnh Sơn La;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ, án văn.
Hoàng Thị Thu Hà Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Sơn La;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND thành phố Sơn La (2);
- THADS thành phố Sơn La;
- Công an thành phố Sơn La;
- THAPT (2);
- Sở Tư pháp tỉnh Sơn La;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ, án văn.
Phan Thị Hoa
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND thành phố Sơn La (2); - THADS thành phố Sơn La; - Công an thành phố Sơn La; - THAPT (2); - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Hoa |