- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Minh Tr - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh Tr phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” .
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 85/2022/HS-ST Ngày: 23/9/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Văn Trình
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trịnh Ngọc Hồng
2. Ông Huỳnh Văn Hùng
-Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Vương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Thư - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 65/2022/TLST-HS ngày 09/9/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2022/QĐXXST-HS ngày 12/9/2022, đối với bị cáo:
Nguyễn Minh Tr, sinh năm 1993 tại tỉnh Bến Tre; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp N, xã P, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre; chổ ở hiện nay: ấp H, xã L, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre; trình độ văn hóa: 9/12; nghề nghiệp: làm thuê; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị Mỹ M, sinh năm 1971; bị cáo chưa có vợ và con; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 13/7/2022 cho đến nay, có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Nhật L, sinh năm 2000; nơi cư trú: ấp H, xã T, huyện Mỏ Cày bắc, tỉnh Bến Tre. Vắng mặt
- Người làm chứng: Lương Ngọc Th, sinh năm 1992; nơi cư trú: 51/1, Đốc Binh Kiều, phường H, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 00 giờ 50 phút ngày 13/5/2022, lực lượng tuần tra Công an tỉnh Bến Tre tuần tra trên đường Võ Nguyên Giáp hướng từ cầu Hàm Luông về vòng xoay phường 6, thành phố Bến Tre. Khi đến khu vực ấp Bình Thành, xã Bình Phú, thành phố Bến Tre thì phát hiện Lương Ngọc Th (SN: 1992; ĐKTT: 51/1, Đốc Binh Kiều, phường H, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang) đang điều khiển xe mô tô biển số 71B3-880.99 (xe Th mượn của Nguyễn Nhật L) chở sau Nguyễn Minh Tr lưu thông cùng chiều phía trước có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Qua kiểm tra, lực lượng Công an phát hiện Tr đang cầm trên tay phải: 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 1.000 đồng được gói lại hình vuông, bên trong chứa chất màu trắng nghi là ma túy và 01 bóp da màu đen, bên trong bóp da có 01 viên nén màu vàng, trên viên nén có chữ UPS nghi là ma túy nên tiến hành lập biên bản sự việc, thu giữ tang vật, sau đó bàn giao cho lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Bến Tre để xử lý theo thẩm quyền.
Vật chứng thu giữ:
- Thu trong bóp da màu đen: 01 viên nén màu vàng, trên viên nén có chữ UPS (sau khi thu giữ được niêm phong trong phong bì ký hiệu M1 có chữ ký và ghi tên Nguyễn Minh Tr, Lương Ngọc Th, Đoàn Thanh T, Trần Duy Ch, Hoàng Quốc H và hình dấu tròn màu đỏ của Công an xã Bình Phú, thành phố Bến Tre).
- Thu 01 gói được gói bằng tờ tiền Việt Nam mệnh giá 1.000 đồng, bên trong có chứa chất màu trắng nghi là ma túy (sau khi thu giữ được niêm phong trong phong bì ký hiệu M2 có chữ ký và ghi tên Nguyễn Minh Tr, Lương Ngọc Th, Đoàn Thanh T, Trần Duy Ch, Hoàng Quốc H và hình dấu tròn màu đỏ của Công an xã Bình Phú, thành phố Bến Tre).
- 01 bóp da màu đen.
- 01 xe mô tô biển số 71B3-880.99
Qua làm việc, Nguyễn Minh Tr khai nhận: 01 viên nén màu vàng và chất màu trắng được gói trong tờ tiền mà lực lượng Công an thu giữ là ma túy loại “thuốc lắc” và “khây” của Tr. Trí có được là do: Vào ngày 11/5/2022, Trí đến khu vực vòng xoay phường 6, thành phố Bến Tre mua của một người thanh niên (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được 2 loại ma túy này, Tr cất giấu vào bóp da màu đen của Trí với mục đích để dành sử dụng. Đến tối ngày 12/5/2022, Tr đem theo số ma túy trên rồi cùng Th đi dự đám giỗ ở nhà của một người bạn ở huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre. Đến khoảng 24 giờ cùng ngày, sau khi dự đám giỗ xong, Th điều khiển xe mô tô biển số 71B3-880.99 chở Tr về nhưng khi về đến khu vực ấp Bình Thành, xã Bình Phú, thành phố Bến Tre thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện và thu giữ toàn bộ như trên.
Theo Kết luận giám định số 200/2022/KL-KTHS ngày 25/5/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công tỉnh Bến Tre kết luận:
- 01 viên nén màu vàng được niêm phong trong phong bì ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy; loại: MDMA; khối lượng 0,5541 gam.
- Chất màu trắng được niêm phong trong phong bì ký hiệu M2 gửi giám định là ma túy; loại: Ketamine; khối lượng 0,3888 gam.
Quá trình điều tra, Nguyễn Minh Tr đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với biên bản sự việc, kết quả giám định, lời khai của những người làm chứng và các chứng cứ khác đã thu thập được. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre đã giao trả cho Nguyễn Nhật L xe mô tô biển số 71B3-880.99.
Tại cáo trạng số 71/CT-VKSTPBT ngày 08/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh Tr về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung cáo trạng và đề nghị:
+ Về hình phạt chính: áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
+ Về hình phạt bổ sung: đề nghị không áp dụng.
+ Về xử lý vật chứng đề nghị áp dụng các Điều 46, 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật ma túy còn lại sau giám định; 01 cái bóp da màu đen. Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre đã giao trả cho Nguyễn Nhật L xe mô tô biển số 71B3-880.99.
- Bị cáo khai nhận: Vào ngày 11/5/2022, bị cáo mua 500.000 đồng ma túy của một người thanh niên (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) với giá 500.000 đồng ở khu vực vòng xoay phường 6, thành phố Bến Tre để dành sử dụng. Đến tối ngày 12/5/2022, bị cáo mang theo số ma túy trên rồi cùng Thạch đi dự đám giỗ ở nhà của một người bạn ở huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre. Trên đường đi về đến khu vực ấp Bình Thành, xã Bình Phú, thành phố Bến Tre thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện và thu giữ toàn bộ như trên. Bị cáo không khiếu nại các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng.
Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo xi giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an thành phố Bến Tre, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tai phiên tòa, vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng nhưng quá trình điều tra, họ đã có lời khai đầy đủ, rõ ràng, sự vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ là phù hợp quy định tại Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra, đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 00 giờ 50 phút ngày 13/5/2022, trên đường Võ Nguyên Giáp đoạn thuộc khu vực ấp Bình Thành, xã Bình Phú, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre, Nguyễn Minh Tr đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,5541 gam ma túy; loại: MDMA và 0,3888 gam ma túy; loại: Ketamine để sử dụng.
Bị cáo là người có đủ năng lực nhận biết việc cất giấu ma túy là bị pháp luật cấm nhưng bị cáo vẫn mua 0,5541 gam ma túy; loại: MDMA và 0,3888 gam ma túy; loại: Ketamine cất giấu để sử dụng nên Cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, đe dọa xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và sự phát triển bình thường của con người, gây tác động xấu đến tình hình an ninh trật tự nơi bị cáo thực hiện tội phạm, nguyên nhân phát sinh các tội phạm và các tệ nạn xã hội khác, gây tâm lý bất an trong quần chúng nhân dân.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo được hưởng là “Người phạm tội thành khẩn khai báo” theo quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi bị cáo gây ra, xét thấy việc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là điều cần thiết nhằm cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân lương thiện có ích cho xã hội và có tác dụng phòng ngừa chung.
Hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Lời phát biểu luận tội của kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng, các tình tiết giảm nhẹ và hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với quy định pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về xử lý vật chứng: Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre đã giao trả cho Nguyễn Nhật L xe mô tô biển số 71B3-880.99; tịch thu tiêu hủy mẫu vật ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 200/2022 có chữ ký ghi tên Trần Duy Ch, Phan Trung Tr, Nguyễn Ngọc M và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bến Tre; 01 cái bóp da màu đen. Đối với tờ tiền 1.000 đồng bị cáo sử dụng để chứa ma túy còn giá trị sử dụng nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Đối với Lương Ngọc Th khi điều khiển xe mô tô biển số 71B3-880.99 chở Nguyễn Minh Tr không biết Trí có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy nên không truy cứu trách nhiệm.
Về án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo phải nộp theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh Tr phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” .
1. Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Tr 01 (một) năm tù;
Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
2. Về xử lý vật chứng áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật ma túy còn lại sau giám định. (được niêm phong trong phong bì số 200/2022 có chữ ký ghi tên Trần Duy Ch, Phan Trung Tr, Nguyễn Ngọc M và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bến Tre); 01 cái bóp da màu đen.
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng (nếu có) chứa trong phong bì số 200/2022 có chữ ký ghi tên Trần Duy Ch, Phan Trung Tr, Nguyễn Ngọc M và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bến Tre.
(Vật chứng hiện Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre quản lý).
3. Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:
Bị cáo Nguyễn Minh Tr phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
4. Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bến Tre (1b); - VKSND tỉnh Bến Tre (1b); - VKSND thành phố Bến Tre (1b); - Cơ quan điều tra CATP Bến Tre (1b); - Cơ quan THAHS CATP Bến Tre (1b); - Chi cục THADS thành phố Bến Tre (1b); - Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre (1b); - UBND xã Mỹ Thanh An, TP. Bến Tre (1b); - Bị cáo (01b); - Bộ phận thi hành án Hình sự (3b); - Lưu (văn phòng, hồ sơ vụ án) (2b). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Ngô Văn Trình |