vanban.org

Bản án 85/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Thanh Khê, TP Đà Nẵng Tuyên án 08/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Mai Minh Tr và Lê Hùng Kh phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy"

Xử phạt: bị cáo Mai Minh Tr 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ bắt giam thi hành án. Xử phạt: bị cáo Lê Hùng Kh 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/3/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai Minh Tr, Lê Hùng Kh phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. - phạm tội mua bán trái phép chấ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Mai Minh Tr và Lê Hùng Kh phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 1 Nghị quyết số 144/2016/QH13 Về lùi hiệu lực thi hành của Bộ…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
Q. THANH KHÊ-TP ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2022/HS- ST
Ngày: 08- 08-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Thuỷ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Lành

Ông Trịnh Hồng Hải

,

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Quỳnh Như- Thư ký Toà án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên toà: Ông Ngô Mạnh Lân - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 08 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 60/2022/TLST- HS ngày 17 tháng 06 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2022/QĐXXST- HS ngày 12 tháng 07 năm 2022; Thông báo V/v Hoãn phiên tòa số 60/TB-TA ngày 22 tháng 07 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. Mai Minh Tr (Tên gọi khác: không) - Sinh ngày 02 tháng 11 năm 1988 tại Đà Nẵng; nơi ĐKNKTT và chỗ ở: tổ 06, phường AHT, quận ST, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: lái xe; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Tự T (s) và bà Nguyễn Thị Th (s); có 01 con sinh năm 2009.

Tiền án, tiền sự: chưa

Nhân thân: Ngày 18/01/2019, bị Công an phường AHT, quận ST, thành phố Đà Nẵng xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền tại Quyết định số 24/QĐ-XPHC về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy. (Đã nộp tiền theo biên lai thu tiền số 00000509 ngày 29/01/2019).

Ngày 21/3/2022, bị cáo bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Sơn Trà bắt tạm giữ, tạm giam về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. (có mặt)

2. Lê Hùng Kh (Tên gọi khác: không) - Sinh ngày 02 tháng 12 năm 1992 tại Đà Nẵng; nơi ĐKNKTT và chỗ ở: tổ 42, phường TKĐ, quận TK, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: lao động phổ thông; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M (c) và bà Lê Thị L (s); có 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2016.

Tiền án: Ngày 28/8/2017 bị TAND thành phố Đà Nẵng xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm c, d khoản 2 Điều 136 Bộ luật Hình sự năm 1999 tại Bản án số 168/2017/HSPT; chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 20/11/2020.

Nhân thân: Ngày 12/8/2010 bị TAND quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm a, d khoản 2 Điều 136 Bộ luật Hình sự năm 1999 (Bản án số 27/2010/HSST); chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 13/02/2012 (thời điểm phạm tội chưa đủ 18 tuổi).

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/3/2022, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận Thanh Khê thành phố Đà Nẵng. (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông Huỳnh Ngọc B, sinh năm 1967; Địa chỉ: Tổ 03, phường KM, quận NHS, thành phố Đà Nẵng. (vắng mặt)

2/ Bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1960; Địa chỉ: Tổ 14, phường NHĐ, quận ST, thành phố Đà Nẵng. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 16h15’ ngày 03/3/2022, tại trước nhà số 249/5 HHT, phường HK, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận Thanh Khê bắt quả tang Lê Hùng Kh và Mai Minh Tr có hành vi tàng trữ ma túy trong người để bán, thu giữ trong túi áo khoác bên phải của Kh: 01 khẩu trang màu trắng bên trong có 01 gói ni lông, chứa tinh thể rắn màu trắng (niêm phong ký hiệu G).

Kết quả thử nước tiểu: Mai Minh Tr dương tính với chất ma tuý, Lê Hùng Kh âm tính với chất ma túy.

Kết quả xét nghiệm covid 19: Kh và Trí đều dương tính với covid nên ngày 04/3/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê ra Quyết định trả tự do đối với Kh và Trí để cách ly điều trị.

Qua điều tra xác định: Vào khoảng 12h30’ ngày 03/3/2022, 01 người thanh niên tên B (chưa xác định được lai lịch) liên lạc hỏi mua của Kh 01 gam ma túy đá với giá 1.400.000 đồng và hẹn giao dịch vào khoảng 16h00’ cùng ngày tại trước nhà số 249/5 HHT, TP Đà Nẵng. Đến khoảng 14h00 cùng ngày, Kh liên lạc hỏi mua gói ma túy của Tr với giá 1.300.000 đồng, Tr đồng ý và đến đường TTT đưa cho người tên H (chưa xác định được lai lịch) 1.000.000 đồng, nhận 01 gói ma túy và cất ma túy vào khẩu trang. Đến khoảng 15h30’ cùng ngày, Tr đến đường NTT gặp Kh thì Kh nhờ Tr chở đến Kiệt 249 HHT để bán ma túy và lấy tiền đưa cho Tr. Khi đến kiệt 249 HHT, Tr đưa khẩu trang có chứa gói ma túy trên cho Kh, Kh cất vào túi áo khoác bên phải đang mặc và đứng chờ B (chưa xác định được lai lịch) thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận Thanh Khê phát hiện bắt quả tang.

*Tại Bản kết luận giám định số 35/KL-MT ngày 10/3/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng kết luận: Tinh thể màu trắng trong gói ni lông trong bì niêm phong ký hiệu G gửi giám định đều là ma túy, loại Methamphetamine khối lượng mẫu G: 0,791 gam. Hoàn lại đối tượng giám định gồm: 0,645 gam mẫu G và toàn bộ vỏ bao gói mẫu.

Quá trình điều tra, Lê Hùng Kh, Mai Minh Tr đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội trên.

Tang vật tạm giữ:

- Mẫu ma túy hoàn trả sau giám định được niêm phong trong bì niêm phong số 35/KL-MT ngày 10/3/2022 có đóng dấu đỏ tròn của phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng và chữ ký giám định viên.

- 01 điện thoại di động màu đen bạc nhãn hiệu LG, số imei 353281090397521, gắn sim mang số thuê bao: 0935.155.940 thu giữ của Mai Minh Tr

- 01 điện thoại di động màu đen bạc nhãn hiệu SamSung (tình trạng bể màn hình) thu giữ của Lê Hùng Kh.

- 01 xe máy nhãn hiệu Attila màu đỏ BKS 43H1-063.09, số khung 002412, số máy 002412 do Huỳnh Ngọc B (sinh năm 1967, trú tổ 03, phường KM, quận NHS, thành phố Đà Nẵng) đứng tên chủ sở hữu. Vào đầu năm 2017, anh B bán xe này lại cho chị Nguyễn Thị Th (sinh năm 1960, trú tại tổ 14, phường NHĐ, quận ST, thành phố Đà Nẵng – Mẹ ruột của Trí) chưa sang tên đổi chủ. Vào ngày 03/3/2022, bà Th cho Mai Minh Tr mượn xe để đi lại.

- 01 khẩu trang, 01 ống hút nhựa.

Tại bản cáo trạng số 65/CT-VKS ngày 16 tháng 06 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố Mai Minh Tr, Lê Hùng Kh về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Các bị cáo Mai Minh Tr, Lê Hùng Kh phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

Căn cứ: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Xử phạt Mai Minh Tr từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

Căn cứ: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự; Xử phạt Lê Hùng Kh từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.

Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có tài sản nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

- Tịch thu, tiêu hủy:

+ Mẫu ma túy hoàn trả sau giám định được niêm phong trong 01 (một) bì niêm phong số 35/KL-MT ngày 10/3/2022 có đóng dấu giáp lai của phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng và chữ ký giám định viên;

+ 01 (một) khẩu trang màu trắng;

+ 01 (một) ống hút nhựa màu đen.

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước:

+ 01 điện thoại di động màu đen bạc nhãn hiệu LG, số imei 353281090397521, gắn sim mang số thuê bao: 0935.155.940 thu giữ của Mai Minh Tr

+ 01 điện thoại di động màu đen bạc nhãn hiệu SamSung (tình trạng bể màn hình) thu giữ của Lê Hùng Kh.

- Tuyên trả: 01 xe máy nhãn hiệu Attila màu đỏ BKS 43H1-063.09, số khung 002412, số máy 002412 cho bà Nguyễn Thị Th.

Tại phiên tòa, các bị cáo Mai Minh Tr, Lê Hùng Kh đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố và không có ý kiến tranh luận gì với phần luật tội của Kiểm sát viên.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Th xin được nhận lại tài sản 01 xe máy nhãn hiệu Attila màu đỏ BKS 43H1-063.09, số khung 002412, số máy 002412.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Đã nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Thanh Khê, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của các bị cáo Mai Minh Tr, Lê Hùng Kh tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 03/3/2022; kết luận giám định số 35/KL-MT ngày 10/3/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an thành phố Đà Nẵng. Hội đồng xét xử có đủ cở sở kết luận: Vào lúc 16h15’ ngày 03/3/2022, tại trước nhà số 249/5 HHT, phường HK, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, Mai Minh Tr bán cho Lê Hùng Kh 0,791 gam ma túy loại Methamphetamine; Kh cất giữ số ma túy này trong người để chờ bán cho người khác thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê bắt quả tang.

Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự như bản cáo trạng số 65/CT-VKS ngày 16 tháng 06 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất của vụ án, mức độ, hành vi phạm tội của từng bị cáo, HĐXX thấy rằng: Đây là vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Các bị cáo nhận thức rõ ma tuý gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, là tệ nạn xã hội và là nguyên nhân gây ra nhiều loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác nhưng đã bất chấp các quy định của pháp luật vẫn thực hiện hành vi mua bán trái phép ma túy để thu lợi bất chính. Trong đó, bị cáo Mai Minh Tr là người trực tiếp mua 0,791 gam ma túy loại Methamphetamine của đối tượng tên Hoàng với giá 1.000.000 đồng, sau đó đã dùng xe máy chở Kh tới trước nhà số 249/5 HHT, phường HK, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng bán ma túy lại cho bị cáo Kh với giá 1.300.000 đồng. Kh cất giữ số ma túy này trong người chờ bán lại cho người tên Bi với giá 1.400.000 đồng thì bị bắt quả tang. Nhân thân của các bị cáo xấu, bị cáo Mai Minh Tr là người nghiện ma túy, ngày 18/01/2019, bị Công an phường AHT, quận ST, thành phố Đà Nẵng xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền tại Quyết định số 24/QĐ-XPHC về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy và đang bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Sơn Trà điều tra về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Lê Hùng Kh 02 lần bị xét xử cùng về tội “Cướp giật tài sản” nên đối với các bị cáo cần phải xử lý nghiêm.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Mai Minh Tr không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Ngày 12/8/2010, Lê Hùng Kh bị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm a, d khoản 2 Điều 136 Bộ luật Hình sự năm 1999 tại Bản án số 27/2010/HSST (thời điểm phạm tội chưa đủ 18 tuổi). Tại khoản 2 Điều 107 của Bộ luật hình sự năm 2015 quy định “Người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì đương nhiên xóa án tích nếu trong thời hạn 03 năm tính từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án mà người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới”. Do Kh đã chấp hành xong hình phạt chính vào ngày 13/02/2012 nên đến ngày 13/02/2015 đương nhiên được xóa án tích (áp dụng nguyên tắc có lợi cho bị cáo theo khoản 4 Điều 1 Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/06/2016 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7 của Bộ luật hình sự năm 2015). Ngày 28/8/2017, Kh đã bị Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” tại Bản án số 168/2017/HSPT, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 20/11/2020 chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp Tái phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo Mai Minh Tr có bà ngoại là người có công cách mạng (02 con là Liệt sỹ) nên được áp dụng khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự theo quy định.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê đề nghị đối với các bị cáo là phù hợp với nhân thân, tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra, mức án của bị cáo Kh cao hơn bị cáo Tr. Do đó, cần thiết phải cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục và răn đe phòng ngừa chung.

Về các vấn đề khác có liên quan đến vụ án:

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Mai Minh Tr, Công an quận Thanh Khê đã xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền.

Đối với người thanh niên tên H có hành vi bán ma túy cho Tr và người thanh niên tên B có hành vi hỏi mua ma túy của Kh, hiện nay đều chưa xác định được lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.

Đối với bà Nguyễn Thị Th có hành vi cho Trí mượn xe BKS 43H1-063.09, nhưng không biết Trí sử dụng xe làm phương tiện đi mua bán ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê không đề cập truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bà Th là có căn cứ.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo Mai Minh Tr, Lê Hùng Kh không bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Về xử lý vật chứng:

Đối với Mẫu ma túy hoàn trả sau giám định được niêm phong trong 01 (một) bì niêm phong số 35/KL-MT ngày 10/3/2022 có đóng dấu giáp lai của phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng và chữ ký giám định viên; 01 (một) khẩu trang màu trắng; 01 (một) ống hút nhựa màu đen thì cần tịch thu, tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động màu đen bạc nhãn hiệu LG, số imei 353281090397521, gắn sim mang số thuê bao: 0935.155.940 thu giữ của Mai Minh Tr; 01 điện thoại di động màu đen bạc nhãn hiệu SamSung (tình trạng bể màn hình) thu giữ của Lê Hùng Kh cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Attila màu đỏ BKS 43H1-063.09, số khung 002412, số máy 002412 tạm giữ của Mai Minh Tr. Xe này do ông Huỳnh Ngọc B đứng tên chủ sở hữu. Vào đầu năm 2017, ông B bán xe này lại cho bà Nguyễn Thị Th– Mẹ ruột của Tr chưa sang tên đổi chủ. Vào ngày 03/3/2022, bà Th cho Mai Minh Tr mượn xe để sử dụng đi lại và không biết Trí sử dụng xe mô tô trên làm phương tiện phạm tội nên cần trả lại cho bà Nguyễn Thị Th là phù hợp.

Về án phí: Mỗi cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Các bị cáo Mai Minh Tr và Lê Hùng Kh phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy"

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: bị cáo Mai Minh Tr 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ bắt giam thi hành án.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

- Xử phạt: bị cáo Lê Hùng Kh 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/3/2022.

* Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu, tiêu hủy:

+ Mẫu ma túy hoàn trả sau giám định được niêm phong trong 01 (một) bì niêm phong số 35/KL-MT ngày 10/3/2022 có đóng dấu giáp lai của phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng và chữ ký giám định viên;

+ 01 (một) khẩu trang màu trắng;

+ 01 (một) ống hút nhựa màu đen.

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước:

+ 01 điện thoại di động màu đen bạc nhãn hiệu LG, số imei 353281090397521, gắn sim mang số thuê bao: 0935.155.940 thu giữ của Mai Minh Tr;

+ 01 điện thoại di động màu đen bạc nhãn hiệu SamSung (tình trạng bể màn hình) thu giữ của Lê Hùng Kh.

- Tuyên trả: 01 xe máy nhãn hiệu Attila màu đỏ BKS 43H1-063.09, số khung 002412, số máy 002412 cho bà Nguyễn Thị Th.

(Toàn bộ số vật chứng trên thể hiện tại biên bản giao, nhận vật chứng ngày 20/06/2022, hiện Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê đang quản lý).

2. Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án

Các bị cáo Mai Minh Tr, Lê Hùng Kh mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo đối với bản án: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ