vanban.org

Bản án 85/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An Tuyên án 26/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo L V Kh phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng: Điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt: L V Kh 02 (Hai) năm 02 (Hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/5/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo L V Kh phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T D
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2022/HS-ST
Ngày 26-8-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T D - TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Ái

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Đình Hưng

Ông Cụt X Ninh

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo - Thư ký Toà án nhân dân huyện T D, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T D tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Lô Văn Tim - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2022, tại trụ Tòa án nhân dân huyện T D, tỉnh Nghệ An đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 72/2022/TLST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2022/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: L V Kh, tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 25 tháng 01 năm 1992 tại huyện T D, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Bản T T, xã Ng L, huyện Th Ch, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông L V T và con bà L Th H; vợ: L Th Th, con: Có 03 con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30 tháng 5 năm 2022 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa: Bà Hoàng Thị Hà – Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên tòa

- Người chứng kiến: Anh N V X. Vắng mặt tại phiên tòa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ, ngày 30/5/2022, L V Kh đi ô tô khách từ xã Ng L, huyện Th Ch, tỉnh Nghệ An đến thị trấn Th Gi, huyện T D, tỉnh Nghệ An, sau đó thuê anh N V X làm nghề xe lại đi vào bản Đ, xã L M, huyện T D, tỉnh Nghệ An, mục đích tìm mua ma túy sử dụng nhưng không nói cho X biết. Khi đến khu vực bản Đ, xã L M, Kh nói X dừng xe bên đường chờ. Kh đi bộ một mình lên đồi thuộc khu vực bản Đ thì gặp một người đàn ông không quen biết, Kh đi lại gần bắt chuyện rồi hỏi người đàn ông “có hàng trắng bán không?” (ý có ma túy Heroine bán không), người đàn ông trả lời “có, mua bao nhiêu?”, nghe người đàn ông nói vậy Kh nói “bán cho một triệu đồng Heroine”, đồng thời lấy trong người ra hai tờ tiền mệnh giá 500.000đ đưa cho người đàn ông, người đàn ông cầm tiền rồi nói “đợi một tí”; sau đó người đàn ông đi đâu đó khoảng 20 phút thì quay lại đưa cho Kh 01 gói bằng bao Potylen màu trắng, bên trong chứa ma túy Heroine. Kh cầm gói ma túy rồi tiếp tục hỏi người đàn ông “anh có viên hồng không cho xin một viên?” (ý xin thêm một viên ma túy tổng hợp), lúc đó người đàn ông lấy trong người ra 01 viên hồng phiến (ma túy tổng hợp) được gói bằng bao Potylen màu hồng đưa cho Kh cầm cả hai gói ma túy rồi dùng bao Potylen màu hồng gói chung lại thành 01 gói. Sau đó đi xuống đồi đến chỗ X đang chờ nói X chở về. Khoảng 12 giờ 10 phút cùng ngày khi N V X điều khiển xe máy chở L V Kh đến khu vực bản X H, xã X L, huyện T D, tỉnh Nghệ An thì bị tổ công tác Công an xã X , huyện T D, tỉnh Nghệ An đang làm nhiệm vụ yêu cầu dừng xe kiểm tra. Quá trình kiểm kiểm tra Công an phát hiện thu giữ trong lòng bàn tay phải của L V Kh đang cầm 01 gói bao Potylen màu hồng mở ra bên trong có 02 gói, 01 gói bằng bao Potylen màu hồng, bên trong chứa viên nén màu hồng: 01 gói bằng bao Potylen màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng. L V Kh khai nhận gói chứa chất bột màu trắng là Heroine, gói chứa viên nén màu hồng là hồng phiên (ma túy tổng hợp) của Kh mua về để sử dụng.

Kết luận giám định số 749/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 04/6/2022 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận:

- Mẫu chất bột màu hồng thu giữ của L V Kh gửi tới giám định là ma tuý (Heroine), có khối lượng 2,35g (Hai phẩy ba mươi lăm) gam.

- Mẫu viên nén màu hồng thu giữ của L V Kh gửi tới giám định là ma tuý, Methamphetamine có khối lượng 0,1g (Không phấy một) gam

Bản Cáo trạng số 81/CT-VKS-TD ngày 01 tháng 8 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T D đã truy tố L V Kh về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố của Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo: L V Kh mức án từ 02 năm 02 tháng tù đến 02 năm 06 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Miễn án phí hình sự sơ thẩm và hình phạt bổ sung cho bị cáo; xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 2,35 Heroine (Đã lấy 0,2 để đi giám định), 0,1g Methaphetamine (Đã lấy hết để đi giám định).

Người bào chữa không có ý kiến tranh luận với bản luận tội và đề xuất Hội đồng xét xử xem xét đến việc nhận thức pháp luật của bị cáo đang còn hạn chế, cư trú ở vùng sâu, vùng xa nên lượng hình ở mức thấp nhất theo đề nghị của Kiểm sát viên đối với bị cáo cụ thể là 02 năm 02 tháng tù, miễn án phí hình sự sơ thẩm và hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến gì tranh luận bổ sung. Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để nhanh chóng trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an huyện T D, tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T D, tỉnh Nghệ An quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo L V Kh đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai của người chứng kiến đã được công bố công khai tại phiên tòa, phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ. Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 12 giờ 10 phút ngày 30/5/2022, tại khu vực bản X H, xã X L, huyện T D, tỉnh Nghệ An, Công an xã Xá Lượng, huyện T D đang làm nhiệm vụ kiểm tra thì phát hiện bắt quả tang L V Kh đang có hành vi tàng trữ trái phép 2,45g gam ma túy bao gồm: 2,35g gam ma túy Heroine và 0,1g gam ma túy Methamphetamine với mục đích để sử dụng. Hành vi mà bị cáo đã thực hiện và khối lượng vật chứng thu được đã cấu thành tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như vậy quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân huyện T D đối với bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ hậu quả của vụ án: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự đã cố ý thực hiện tội phạm nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là một trong những nguyên nhân gây nên các tệ nạn xã hội và tội phạm. Vì vậy việc cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian nhất định để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung là cần thiết.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo sau khi phạm tội đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình gây ra nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo và lượng hình ở mức thấp nhất như lời đề nghị của Kiểm sát viên, người bào chữa là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Hình phạt bổ sung: Kết quả xác minh tài sản của bị cáo chỉ đủ duy trì cuộc sống thiết yếu hàng ngày và không có tài sản nào được tạo lập từ việc phạm tội nên chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, người bào chữa miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Đối với người đàn ông đã bán ma tuý cho Kh, do Kh không biết họ, tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của những người này nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra làm rõ.

Đối với N V X làm nghề xe lai chở L V Kh đi vào khu vực bản Đ, xã L M, huyện T D nhưng X không biết việc Kh đi mua ma túy nên không xử lý.

Xử lý vật chứng: 2,35g Heroine (đã lấy 0,2g đi giám định) và 0,1g Methamphetamine (đã lấy hết đi giám định) là vật cấm lưu hành không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy;

Án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên Hội đồng xét xử chấp nhận lời đề nghị của Kiểm sát viên, Người bào chữa miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

- Tuyên bố bị cáo L V Kh phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

- Áp dụng: Điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Xử phạt: L V Kh 02 (Hai) năm 02 (Hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/5/2022.

- Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tiêu hủy vật chứng còn lại của vụ án (Đặc điểm và tình trạng vật chứng như trong biên bản giao nhận số 96 ngày 02.8.2022 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T D, tỉnh Nghệ An và Chi cục Thi hành án dân sự huyện T D, tỉnh Nghệ An);

- Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo L V Kh.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 26/8/2022.

Cỡ chữ