- Tranh chấp gì? án hình sự — "Giang Thi Phe - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Bị cáo Giàng Thị P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 85/2022/HS-ST Ngày 08 tháng 9 năm 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vân Văn Kiều;
Bà Vương Đào Tiên.
- Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Tiến Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Ông Đông Xuân Tím - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu mở phiên toà xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 86/2022/TLHS-ST, ngày 19 tháng 8 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2022/QĐXXST-HS, ngày 29 tháng 8 năm 2022, đối với bị cáo:
Họ và tên: Giàng Thị P, tên gọi khác: Không có, sinh năm 1968, tại: huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Bản L, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu; dân tộc: Mông; giới tính: Nữ; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 0/12; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ: Giàng Pàng P, đã chết; mẹ đẻ: Vàng Thị M, đã chết; chồng: Vàng A D, đã chết; bị cáo có 05 con, con lớn sinh năm 1990, con nhỏ sinh năm 1997; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam tại Nhà Tạm giữ Công an huyện Phong Thổ từ ngày 24/3/2022 đến ngày 24/8/2022, hiện đang áp dụng biện pháp bảo lĩnh, có mặt tại phiên tòa.
Người phiên dịch cho bị cáo: Anh Phàn A K, sinh năm 2002, địa chỉ: Tổ dân phố P, thị trấn P, huyện P, tỉnh Lai Châu, có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
Anh Giàng A D, sinh năm 1976, địa chỉ: Bản L, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu, vắng mặt không có lý do.
Chị Sùng Thị M, sinh năm 1976, địa chỉ: Bản L, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu, vắng mặt không có lý do.
Anh Sùng A L, sinh năm 1980, địa chỉ: Bản L, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu, vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ, ngày 22/3/2022, Giàng Thị P đi chăn trâu về đến khu vực cuối bản Lảng Than, xã Mù Sang, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu thì gặp một người đàn ông không rõ lai lịch cụ thể và mua được của người đó 01 gói Heroine được gói ngoài bằng mảnh ni lon màu trắng với giá 1.000.000 đồng. Nhận được gói Heroine từ người đàn ông, P giấu vào túi quần đang mặc rồi đi về nhà, còn người đàn ông kia đi đâu, làm gì thì P không biết. Về đến nhà, P đem gói Heroine vào cất giấu trong giường ngủ của P rồi đi nấu cơm. Sau khi ăn cơm xong, P lấy gói Heroine ra chia thành nhiều cục nhỏ và gói thành từng gói nhỏ bằng các mảnh ni lon màu trắng và màu xanh. Gói xong, P không đếm xem được bao nhiêu gói mà cho toàn bộ các gói nhỏ Heroine vào một lọ nhựa màu trắng đục rồi cất giấu vào vách gỗ cạnh chân giường ngủ của P mà không cho ai biết, mục đích để bán lẻ kiếm lời và trả công cho người đi làm thuê.
Đến khoảng 08 giờ, ngày 23/3/2022, khi P đang nấu cơm trong bếp thì có Giàng A D đến hỏi mua Heroine của P. P đã bán cho D 01 gói Heroine giá 25.000 đồng. Khi đưa gói Heroine cho D, P hỏi D là M (vợ D) có đi làm nương cho P được không thì D nói để về hỏi vợ xem sao. Sau đó, D đem gói Heroine về nhà và cả hai vợ chồng D cùng sử dụng hết bằng hình thức hít.
Khoảng 09 giờ, ngày 23/3/2022, khi P đang chuẩn bị đi làm nương thì Sùng A Lùng đến hỏi mua Heroine của P. P đã bán cho Lùng 01 gói Heroine giá 20.000 đồng, số còn lại, P cất giấu như cũ. Nhận được Heroine, Lùng đem ra ngoài đường thuộc khu vực bản Lảng Than sử dụng hết bằng hình thức hít.
Khoảng 07 giờ, ngày 24/3/2022, khi đi nhận quần áo từ thiện ở trường học gần nhà P, P gặp Sùng Thị M và hỏi M có đi làm thuê cho P không thì M đồng ý. Sau đó, P đi về nhà lấy lọ nhựa đựng Heroine đem theo đi làm nương. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, P, M và một số người đi làm thuê cho P nghỉ trưa để ăn cơm tại lán nương của P ở bản Lùng Than, xã Mù Sang. Sau khi ăn cơm xong, P và M đi ra phía sau lán, P hỏi M có lấy Heroine để dùng không? M trả lời có và P đã lấy 01 gói Heroine từ trong lọ nhựa ra đưa cho M. Sau đó, P đi vào trong lán còn M cầm gói Heroine đi ra ngoài sử dụng hết bằng hình thức hít. M tiếp tục làm nương cho P đến khoảng 16 giờ 30 phút, cùng ngày thì xong. Do M đã được P trả công bằng 01 gói Heroine mà M đã sử dụng hết vào buổi trưa ngày 24/3/2022 nên M không được P trả công làm việc ngày hôm đó bằng tiền nữa.
Khoảng 19 giờ 15 phút, ngày 24/3/2022, tổ công tác Đồn Biên phòng Dào San - Bộ đội Biên phòng tỉnh Lai Châu làm nhiệm vụ tại khu vực bản Lảng Than, xã Mù Sang. Thấy Giàng Thị P có biểu hiện nghi vấn, tổ công tác đã tiếp cận nhà Giàng Thị P để kiểm tra. Qua vận động, giải thích, Giàng Thị P đã giao nộp cho tổ công tác 01 lọ nhựa màu trắng đục, bên trong có 81 gói chất bột màu trắng, gồm 26 gói được gói bằng ni lon màu xanh, 55 gói được gói bằng ni lon màu trắng, cùng số tiền 115.000 đồng. P khai nhận, số chất bột màu trắng đó là Heroine do P mua về để bán lẻ kiếm lời và trả công cho người đi làm thuê cho P. Số tiền 115.000 đồng là tiền P đã bán Heroine mà có.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định, xác định được: Số chất bột, màu trắng thu giữ của Giàng Thị P là ma túy, loại Heroine, có khối lượng: 4,50 gam; Số tiền 115.000 đồng thu giữ của Giàng Thị P là tiền thật.
Tại bản Cáo trạng số: 57/CT-VKS, ngày 18/8/2022, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu để xét xử bị cáo Giàng Thị P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận thực hiện hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, không có tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên Cáo trạng. Phần luận tội, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Giàng Thị P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Về hình phạt, áp dụng điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Giàng Thị P từ 08 (Tám) năm 06 (Sáu) tháng đến 09 (Chín) năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Về xử lý vật chứng: Đối với 4,50 gam Heroine thu giữ của bị cáo đã lấy 0,61 gam gửi đi giám định không hoàn lại nên không để cập xử lý. Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng còn lại, gồm: Tịch thu tiêu hủy: 3,89 gam Heroine thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định; 01 lọ nhựa đã qua sử dụng; các mảnh ni lon cũ; các phong bì niêm phong vật chứng. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 45.000 đồng là tiền bị cáo bán Heroine cho Giàng A D và Sùng A Lùng. Trả lại cho bị cáo số tiền còn lại là 70.000 đồng.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phong Thổ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.
Những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa đều đã có lời khai trong quá trình điều tra, được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục tố tụng nên Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về chứng cứ, hành vi mà bị cáo Giàng Thị P đã thực hiện:
Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo, lời khai của những người làm chứng trong quá trình điều tra, truy tố, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và gửi đi giám định, các kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định:
Vào khoảng 18 giờ, ngày 22/3/2022, Giàng Thị P gặp một người đàn ông không rõ lai lịch cụ thể và mua được của người đó 01 gói Heroine được gói ngoài bằng mảnh ni lon màu trắng với giá 1.000.000 đồng. Sau đó, P đã chia số Heroine ra chia thành nhiều cục nhỏ và gói thành từng gói nhỏ bằng các mảnh ni lon màu trắng và màu xanh rồi cho toàn bộ các gói nhỏ Heroine vào một lọ nhựa màu trắng đục đem cất giấu tại vách gỗ cạnh chân giường ngủ của P. Mục đích để bán lẻ và trả công cho người đi làm thuê.
Khoảng 08 giờ, ngày 23/3/2022, Giàng Thị P đã bán trái phép cho Giàng A D 01 gói Heroine giá 25.000 đồng.
Khoảng 09 giờ, ngày 23/3/2022, Giàng Thị P đã bán trái phép cho Sùng A Lùng 01 gói Heroine giá 20.000 đồng.
Trưa ngày 24/3/2022, Giàng Thị P đã lấy 01 gói Heroine trả công cho Sùng Thị M do M đã đi làm nương cho P.
Khoảng 19 giờ 15 phút, ngày 24/3/2022, khi tổ công tác Đồn Biên phòng Dào San - Bộ đội Biên phòng tỉnh Lai Châu tiếp cận nhà Giàng Thị P để kiểm tra, Giàng Thị P đã giao nộp cho tổ công tác 01 lọ nhựa màu trắng đục, bên trong có 81 gói chất bột màu trắng, gồm 26 gói được gói bằng ni lon màu xanh, 55 gói được gói bằng ni lon màu trắng, cùng số tiền 115.000 đồng. P khai nhận, số chất bột màu trắng đó là Heroine do P mua về để bán lẻ kiếm lời và trả công cho người đi làm thuê. Số tiền 115.000 đồng là tiền P bán Heroine mà có.
Qua các kết quả giám định xác định: Số chất bột, màu trắng thu giữ của Giàng Thị P gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng: 4,50 gam; Số tiền 115.000 đồng thu giữ của Giàng Thị P là tiền thật.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, tính chất tội phạm rất nghiêm trọng, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo nhận thức được rõ Heroine là một loại ma túy, chất gây nghiện có tác hại rất lớn và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh tội phạm khác, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự trên địa bàn; hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Những tình tiết liên quan đến vụ án:
Đối với người đàn ông đã bán Heroine cho bị cáo, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ của người đó nên không đủ cơ sở để điều tra xác minh làm rõ hành vi của người đã bán trái phép Heroine cho bị cáo.
Đối với Giàng A D, Sùng A Lùng, Sùng Thị M, đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên bị Cơ quan Công an huyện Phong Thổ đã xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.
Số tiền đã thu giữ của bị cáo là 115.000 đồng, bị cáo khai đó là tiền do bị cáo bán Heroine mà có. Tuy nhiên, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, chỉ có đủ căn cứ xác định bị cáo đã bán Heroine cho Giàng A D và Sùng A Lùng được 45.000 đồng. Đối với số tiền 70.000 đồng, ngoài lời khai của bị cáo thì không có tài liệu, chứng cứ nào khác nên không đủ cơ sở để xác định số tiền này là do bị cáo bán Heroine mà có.
Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, không biết chữ, hiểu biết pháp luật có phần hạn chế. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi của bị cáo gây ra cho xã hội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định đủ để cải tạo và nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật cho bị cáo, đồng thời để góp phần răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có công việc ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Về xử lý vật chứng: Đối với 0,61 gam Heroine trong số 4,50 gam Heroine thu giữ của bị cáo đã gửi đi giám định không hoàn lại, Hội đồng xét xử không xem xét. Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xử xử lý vật chứng còn lại, gồm: Đối với 3,89 gam Heroine thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành; 01 lọ nhựa đã qua sử dụng, các mảnh ni lon cũ, các phong bì niêm phong vật chứng là những vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. Số tiền 115.000 đồng thu giữ của bị cáo, trong đó có 45.000 đồng là tiền bị cáo bán Heroine cho Giàng A D và Sùng A Lùng nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. Số tiền còn lại là 70.000 đồng, do không chứng minh được là tiền bị cáo bán Heroine mà có nên trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo nên thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố:
1. Bị cáo Giàng Thị P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
2. Về hình phạt:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Giàng Thị P: 08 (Tám) năm 06 (Sáu) tháng tù. Bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/3/2022 đến ngày 24/8/2022 (thời gian tạm giữ, tạm giam là 154 ngày, bằng 05 tháng 04 ngày), còn phải chấp hành: 08 (Tám) năm 26 (Hai mươi sáu) ngày tù.
Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
3. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 45.000 đồng thu giữ của bị cáo.
Trả lại cho bị cáo số tiền 70.000 đồng đã thu giữ của bị cáo.
Tịch thu tiêu hủy các vật chứng, gồm: 3,89 gam Heroine thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành; 01 lọ nhựa đã qua sử dụng, các mảnh ni lon cũ, các phong bì niêm phong vật chứng.
(Toàn bộ vât chứng hiện đang được lưu tại Kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu).
4. Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh; - VKSND tỉnh; - Sở Tư pháp; - VKSND huyện Phong Thổ; - CA huyện Phong Thổ (CQ CSĐT, THAHS); - THADS huyện Phong Thổ; - Bị cáo; - Lưu: HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Hạnh |