- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Nguyễn Ngọc Ánh - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Bị Tòa án cấp phúc thẩm xử phạt 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 109 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 113 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 85/2022/HS-PT Ngày: 05 - 9 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Viết Hải
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thái Sơn và bà Từ Thị Hải Dương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Mai Ly - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 9 năm 2022, tại phòng xét xử hình sự. Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 73/2022/TLPT-HS ngày 01 tháng 8 năm 2022, đối với bị cáo Nguyễn Văn Á, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 31/2022/HSST ngày 28 tháng 6 năm 2022 của Toà án nhân dân thị xã B, tỉnh Quảng Bình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 566/2022/QĐXXPT-HS ngày 22/8/2022.
Bị cáo kháng cáo: Nguyễn Văn Á, sinh ngày 09/11/1980 tại thị xã B, tỉnh Quảng Bình; nơi đăng ký NKTT và chổ ở hiện nay: thôn H, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 07/12; nghề nghiệp: kinh doanh; con ông Nguyễn Văn Ch (chết) và bà Bùi Thị Y (chết); có vợ: Phạm Thị Hồng Nh, sinh năm 1998 và 02 con: lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã B, tỉnh Quảng Bình từ ngày 30/12/2021 cho đến nay, có mặt.
Trong vụ án còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đoàn Vĩnh H nhưng không có kháng cáo, Bản án sơ thẩm không bị kháng nghị, nên Tòa án không triệu tập tham gia phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ 45 phút, ngày 27/12/2021, Nguyễn Văn Á đi xe khách từ tỉnh Quảng Trị về thị xã B thì nảy sinh ý định mua ma túy về bán kiếm lời. Khi xe khách đi đến khu vực thành phố Đồng Hới, Á xuống xe một mình đi đến đoạn đường hẻm gần bệnh viện Hữu nghị Việt Nam - Cu Ba thuộc phường N, thành phố Đồng Hới. Tại đây, Á gặp được một người đàn ông không rõ tên, địa chỉ cụ thể, Á dò hỏi và mua được 268 viên ma túy tổng hợp dạng Hồng phiến với giá 6.700.000 đồng (trong đó 95 viên ma túy được bỏ trong một hộp nhựa được quấn băng dính màu đen bên ngoài và 173 viên ma túy được bọc trong một túi nilon màu hồng). Sau đó, Á đi về nhà, cất giấu hộp nhựa được quấn băng dính màu đen bên trong có 95 viên ma túy ở dưới bồn rửa trong phòng bếp tầng hai nhà ở của mình, còn 173 viên ma túy được bọc trong túi nilon màu hồng, Á cất giấu ở dưới gầm tủ trong phòng kho chổ ở của mình. Đến khoảng 21 giờ 05 phút, ngày 29/12/2021, khi Á đang ở nhà thì có Đoàn Vĩnh H, sinh năm 1995, trú tại thôn Th, xã Q, thị xã B đến gặp, hỏi mua 450.000 đồng ma túy tổng hợp dạng Hồng phiến thì Á đồng ý. Á cầm số tiền từ H rồi đi lên tầng hai lấy 05 viên ma túy tổng hợp dạng Hồng phiến trong hộp nhựa cất giấu ở dưới bồn rửa trong phòng bếp, Á gói số ma túy trên trong giấy bạc và đi xuống chổ H đang đợi để bán cho H. Khi Á đang cầm gói ma túy trên tay từ tầng hai xuống và chuẩn bị đưa cho H thì bị Công an thị xã B phát hiện, bắt quả tang, do lo sợ nên Á đã làm rơi số ma túy đang cầm trên tay xuống nền nhà ngay vị trị đang đứng. Công an thị xã B đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Văn Á và Đoàn Vĩnh H về hành vi mua bán trái phép chất ma túy, thu giữ toàn bộ tang vật liên quan.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B đã tiến hành khám xét khẩn cấp chổ ở của Nguyễn Văn Á, quá trình khám xét, Nguyễn Văn Á đã tự nguyện giao nộp toàn bộ số ma túy còn lại đã cất giấu, cụ thể: một hộp nhựa được quấn băng dính màu đen bên trong có 90 viên ma túy tổng hợp dạng Hồng phiến ở dưới bồn rửa trong phòng bếp tầng hai nhà ở Á; một túi nilon màu hồng bên trong chứa 173 viên ma túy tổng hợp dạng Hồng phiến ở dưới gầm tủ trong phòng kho chổ ở của Á.
Tại Bản kết luận giám định số 62/GĐ-PC09 ngày 05 tháng 01 năm 2022, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình kết luận: 05 viên nén hình tròn dạng thuốc tân dược màu hồng, thu giữ tại nền nhà của Nguyễn Văn Á trong quá trình bắt quả tang là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,5g (không phẩy năm gam); 263 viên nén hình tròn dạng thuốc tân dược màu hồng, thu giữ trong quá trình khám xét khẩn cấp tại chổ ở của Nguyễn Văn Á là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 26,258g (hai mươi sáu phẩy hai trăm năm mươi tám gam). Tổng số ma túy khi bắt quả tang và khám xét khẩn cấp chổ ở của Nguyễn Văn Á là 26,758 gam. Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, Số thứ tự: 323, Danh mục II, Nghị định số 73/2018/NĐ - CP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Chính phủ.”
Vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B đã thu giữ 05 viên nén hình tròn dạng thuốc tân dược màu hồng tại nền nhà của Á; thu giữ 263 viên nén hình tròn dạng thuốc tân dược màu hồng, thu giữ trong quá trình khám xét khẩn cấp chổ ở Á. Sau khi giám định đã được niêm phong bằng một phong bì thư dán kín, có số 62/GĐ-PC09 ngày 05 tháng 01 năm 2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình, ghi “mẫu kí hiệu A1”, bên trong chứa 0,39g (không phẩy ba mươi chím gam), ghi “mẫu kí hiệu A2”, bên trong chứa 26,126g (hai mươi sáu phẩy một trăm hai mươi sáu gam), kèm theo toàn bộ vỏ bao gói và số tiền 450.000 đồng.
Trong vụ án này, Đoàn Vĩnh H là người có hành vi mua 450.000 đồng ma túy từ Nguyễn Văn Á nhằm mục đích sử dụng, tuy nhiên Á chưa kịp giao ma túy cho H thì bị bắt quả tang nên hành vi của H chưa đủ yếu tố cấu thành tội về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B đã ra quyết định trả tự do cho Đoàn Vĩnh H và chuyển hồ sơ cho Công an thị xã B để xử lý theo quy định pháp luật.
Tại Cáo trạng số 29/CT - VKSBĐ ngày 24 tháng 5 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã B, tỉnh Quảng Bình truy tố bị cáo Nguyễn Văn Á về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 31/2022/HS-ST ngày 28/6/2022 của Toà án nhân dân thị xã B, tỉnh Quảng Bình đã Quyết định. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Á phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
Căn cứ điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; các điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; các điểm a, b khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 329; các khoản 1, 4 Điều 331; khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Á 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 30/12/2021.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm, quyền kháng cáo của bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật.
Ngày 12/7/2022, bị cáo Nguyễn Văn Á có đơn kháng cáo, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Nguyễn Văn Á khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản Cáo trạng và quyết định của Bản án sơ thẩm, giữ nguyên kháng cáo xin được giảm nhẹ một phần hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Bản án sơ thẩm đã tuyên bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và xử phạt bị cáo 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng là đúng người, đúng tội và phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo cung cấp thêm tài liệu chúng cứ như trong năm 2020 bị cáo đã có công giúp người chết đuối, Bố mẹ đã mất, phải nuôi con nhỏ, bị cáo là lao động chính, nên có hoàn cảnh khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận, nên cần áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo từ 12 đến 18 tháng. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng Điều 355 và 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Á để sửa Bản án sơ thẩm. Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Ngày 12/7/2022, bị cáo nộp đơn kháng cáo. Đơn kháng cáo của bị cáo đảm bảo về người kháng cáo, thời hạn kháng cáo, hình thức và nội dung kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét nội dung kháng cáo của bị cáo theo trình tự, thủ tục phúc thẩm.
Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, đúng như nội dung Cáo trạng và Bản án sơ thẩm đã quyết định. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, lệnh khám xét khẩn cấp, biên bản niêm phong tài liệu, đồ vật bị tạm giữ, kết luận giám định, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ, cũng như các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận. Với mục đích mua ma túy bán kiếm lời, nên ngày 27/12/2021, bị cáo đã mua 268 viên ma túy tổng hợp loại Hồng phiến, với giá 6.700.000 đồng đưa về nhà cất dấu, với ý định ai mua thì bán. Đến 21 giờ 05 phút, ngày 29/12/2021, Đoàn Vĩnh H đến nhà bị cáo hỏi mua ma túy, với số tiền 450.000 đồng, bị cáo đồng ý. Trong khi bị cáo đi lấy ma túy để bán cho H thì bị lực lượng Công an thị xã B phát hiện, bắt quả tang và tiến hành khám xét khẩn cấp chổ ở của bị cáo. Bị cáo đã tự nguyện giao nộp một hộp nhựa được quấn băng dính màu đen bên trong có 85 viên ma túy và một túi nilon màu hồng bên trong chứa 173 viên ma túy. Tổng số viên ma túy mà bị cáo cất giữ là 268 viên, có khối lượng 26,258g ma túy, loại Methaphetamine. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Ngoài ra còn trực tiếp đe doạ nghiêm trọng đến sức khỏe và sự phát triển của người khác, gây thiệt hại về kinh tế cho xã hội, làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự trị an. Vì vậy, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Á phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn Á, Hội đồng xét xử thấy:
Quá trình xét xử sơ thẩm, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã xem xét đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, đặc điểm nhân thân của bị cáo. Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bố đẻ bị cáo là thương binh, người có công với cách mạng; bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt, nên Hội đồng xét xử sơ thẩm đã quyết định áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng là có phần nghiêm khắc so với các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo. Tại phiên tòa hôm nay, gia đình bị cáo xuất trình thêm giấy xác nhận của chính quyền địa phương bị cáo là lao động chính, bố mẹ mất sớm, con còn nhỏ, nên hoàn cảnh gia đình khó khăn; trong năm 2020 bị cáo có công cứu người đuối nước, nên cần áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 BLHS để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa, để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật Nhà nước ta mà tự giác cải tạo, giáo dục bản thân sớm hòa nhập cộng đồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Á, sửa Bản án sơ thẩm số 31/2022/HS-ST ngày 28/6/2022 của Toà án nhân dân thị xã B, tỉnh Quảng Bình về phần hình phạt đối với bị cáo.
Về án phí hình sự phúc thẩm: kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Á được chấp nhận, nên phải chịu án phí.
Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, 357; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; điểm d khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326 /2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Tuyên xử.
1. Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn Á. Sửa bản án sơ thẩm số 31/2022/HS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2022 của Toà án nhân dân thị xã B, tỉnh Quảng Bình về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn Á.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Á 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 30/12/2021.
Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Văn Á với thời hạn 45 ngày, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (05/9/2022) để đảm bảo thi hành án, theo quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử.
2. Về án phí phúc thẩm: bị cáo Nguyễn Văn Á không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (05/9/2022).
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- Vụ giám đốc kiển tra 1 TANDTC;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TANDCC tại Đà Nẵng;
- VKSND tỉnh Quảng Bình;
- Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình;
(Đã Ký)
- Tòa án nhân dân thị xã B;
- VKSND thị xã B;
- Công an thị xã B;
- Chi cục THADS thị xã B;
- Bị cáo;
Dương Viết Hải
- Lưu VP; HSVA. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- Vụ giám đốc kiển tra 1 TANDTC;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TANDCC tại Đà Nẵng;
- VKSND tỉnh Quảng Bình;
- Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình;
- Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn;
- VKSND thị xã Ba Đồn;
- Công an thị xã Ba Đồn;
- Chi cục THADS thị xã Ba Đồn;
- Bị cáo;
Dương Viết Hải
- Lưu VP; HSVA. TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH QUẢNG BÌNH
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào lúc.......giờ.......phút, ngày.......tháng......năm 2022, tại phòng nghị án.
Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có :
Thẩm phán- chủ toạ phiên toà: ông Dương Viết Hải.
Thẩm phán:..................................................................................................
Tiến hành nghị án đối với vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 73/2022/HS-PT ngày 01/8/2022, đối với bị cáo Nguyễn Văn Ánh bị Tòa án nhân dân thị xã ba Đồn, tỉnh Quảng Bình xử phạt về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự, với mức hình phạt 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 31/2022/HS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình, nhưng bị cáo Nguyễn Văn Ánh kháng cáo.
Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên toà, kết quả
tranh tụng tại phiên toà, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH
CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:
1. Về điều luật áp dụng: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, 357; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; điểm d khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326 /2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Kết quả biểu quyết:......................................................................................
2. Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn Ánh. Sửa bản án sơ thẩm số 31/2022/HS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2022 của Toà án nhân dân thị xã ba Đồn, tỉnh Quảng Bình về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn Ánh.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Ánh 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 30/12/2021.
Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Văn Ánh với thời hạn 45 ngày, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (05/9/2022) để đảm bảo thi hành án, theo quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử.
Kết quả biểu quyết:......................................................................................
3. Các vấn đề khác
- Bị cáo Nguyễn Văn Ánh không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Kết quả biểu quyết:......................................................................................
Biên bản nghị án kết thúc vào hồi…..………...giờ…….………phút ngày….…….tháng……….năm 2022, đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe nhất trí và ký tên.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
CÁC THÀNH VIÊN
THẨM PHÁN
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TOÀ ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH QUẢNG BÌNH
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Số:...../2022/HSPT-QĐTG
Quảng Bình, ngày 05 tháng 9 năm 2022
QUYẾT ĐỊNH TẠM GIAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Viết Hải
Các Thẩm phán:Ông Nguyễn Thái Sơn, bà Từ Thị Hải Dương
Căn cứ các điều 109, 113, 119 và 347 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ vào biên bản nghị án ngày 05 tháng 9 năm 2022 của Hội đồng xét xử phúc thẩm;
Xét thấy cần thiết tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Tạm giam bị cáo Nguyễn Văn Ánh, sinh ngày 09/11/1980 tại thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình; nơi đăng ký NKTT và chổ ở hiện nay: thôn Hợp Hòa, xã Quảng Hòa, thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình; trình độ học vấn: 07/12; nghề nghiệp: kinh doanh;
Bị Tòa án cấp phúc thẩm xử phạt 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Thời gian tạm giam 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm 05/9/2022.
Điều 2. Nhà tạm giữ Công an thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình có trách nhiệm thi hành Quyết định này.
| Nơi nhận: - Nhà tạm giữ CA TX Ba Đồn; - VKSND tỉnh Quảng Bình; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Viết Hải |