vanban.org

Bản án 85/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình Tuyên án 28/10/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Về hình phạt và điều luật áp dụng: Áp dụng Điểm c khoản 1 Điều 249, Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38; Điều 50, Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 01(một) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 15/7/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "nguyễn Văn h tàng trữ trái phép chất ma túy - Bị truy tố tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG HƯNG
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2021/HSST
Ngày 28/10/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM



TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG – TỈNH THÁI BÌNH

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Nhung.

Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Vĩnh và ông Lê Đình Cự.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Bùi Thuận Yến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Huân - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 10 năm 2021. Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 82/2021/TLST - HS ngày 08/10/2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2021/QĐXXST - HS ngày 13/10 /2021 đối với :

Bị cáo: Nguyễn Văn H, sinh ngày 14/11/1986. Giới tính: Nam

Nơi sinh, nơi cư trú: Thôn L T, xã Ng X, huyện Đ H, tỉnh T B.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12. Bố đẻ: Nguyễn Văn S, Mẹ đẻ: Nguyễn Thị Ph (đã chết). Vợ: Nguyễn Thị Phương B, sinh năm 1991; Con: Có 01 con sinh năm 2016.

- Tiền sự: 01. Ngày 14/5/2021 bị Công an huyện Đông Hưng, xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi trộm cắp tài sản, theo Quyết định xử phạt hành chính số 53/2021/QĐ-XPHC bị cáo đã nộp phạt xong ngày 17/5/2021.

- Tiền án: Không.

- Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/7/2021 đến ngày 18/7/2021 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đông Hưng.

( Bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa)

Người chứng kiến :

1.Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1973

Trú tại: Thôn C D1, xã Đ L, huyện Đ H, tỉnh T B

2. Anh Bùi Bá T, sinh năm 1994

Trú tại: Thôn C D 1, xã Đ L, huyện Đ H, tỉnh T B

(Đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến vụ án tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 15/7/2021, trên đường Quốc lộ 10, thuộc địa phận thôn Cổ Dũng 1, xã Đông La, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy, Công an huyện Đông Hưng, phối hợp với Công an xã Đông La, phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy trong người. Trước sự chứng kiến của ông Nguyễn Văn T, và anh Bùi Bá T1, đều cư trú tại thôn Cổ Dũng 1, xã Đông La, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình, Nguyễn Văn H đã tự nguyện lấy trong túi quần phía trước bên trái đang mặc 03 gói nhỏ có đặc điểm đều gói bằng giấy trắng có dòng kẻ, bên trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng dạng cục giao nộp cho tổ công tác, H khai đó là Heroine mua về để sử dụng.

Quá trình điều tra Nguyễn Văn H khai do nghiện ma túy, để có ma túy sử dụng, vào khoảng 09 giờ 00 phút ngày 15/7/2021, H đi bộ từ nhà ra Quốc lộ 39, sau đó bắt xe ô tô khách đến ngã tư Vũ Hạ, xã An Vũ, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình để mua ma túy sử dụng. Tại đây, H tìm một người phụ nữ có đặc điểm cao khoảng 1,5 mét, dáng người gầy, khoảng 35 tuổi, đeo khẩu trang không nhìn rõ mặt, không biết tên, địa chỉ đang đứng ở lề đường, H hỏi mua 300.000 đồng ma túy loại Heroine, người phụ nữ này đồng ý cầm lấy tiền của H và bán cho H 03 gói Heroine có đều được gói bằng giấy trắng có dòng kẻ, H cầm 03 gói ma túy cho vào túi quần phía trước, bên trái đang mặc rồi bắt xe ô tô khách đi theo Quốc lộ 10 về Đông Hưng, khi đi đến địa phận thôn Cổ Dũng 1, xã Đông La, huyện Đông Hưng, H xuống xe mục đích tìm mua bơm kim tiêm để sử dụng ma túy thì bị tổ công tác của Công an huyện Đông Hưng bắt quả tang thu giữ vật chứng.

Cơ quan điều tra Công an huyện Đông Hưng tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của H tại thôn L T, xã Ng Xá, huyện Đ H không quản lý, thu giữ tài sản, đồ vật gì liên quan.

Tại bản kết luận giám định số 273/KLGĐMT-PC09 ngày 16/7/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình, kết luận: Mẫu vật gửi đến giám định thu giữ của Nguyễn Văn H là ma tuý, loại Heroine (Hêrôin), có khối lượng 0,1722 gam (Không phẩy một nghìn bảy trăm hai mươi hai gam).

Căn cứ vào hành vi phạm tội của bị cáo; Cáo trạng số 86/CT- VKSĐH ngày 08/10/2021 của viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng đã truy tố bị cáo về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Trong phần tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng giữ quyền công tố tại phiên tòa phân tích nguyên nhân, điều kiện phạm tội, đánh giá chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm, hậu quả, nhân thân của bị cáo, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trên cơ sở đó đề nghị HĐXX kết tội bị cáo theo toàn bộ cáo trạng đã truy tố, đồng thời áp dụng Điểm c, khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự tuyên bố bị cáo H phạm tội:“ Tàng trữ trái phép chất ma túy” phạt bị cáo mức hình phạt từ 01 năm 06 tháng – 01 năm 09 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo đồng thời đề nghị HĐXX xử lý vật chứng.

Tại phiên tòa bị cáo H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình cụ thể như sau:

Hồi 10 giờ 00 phút ngày 15/7/2021, tại Quốc lộ 10, thuộc địa phận thôn Cổ Dũng 1, xã Đông La, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình, H có hành vi tàng trữ trái phép 0,1722 gam ma túy (Không phẩy một nghìn bẩy trăm haimươi hai gam), loại hêroin với mục đích sử dụng bị tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma túy Công an huyện Đông Hưng phối hợp với Công an xã Đông La, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình bắt quả tang.

Bị cáo xác định cáo trạng truy tố bị cáo về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng pháp luật vì vậy không trình bày lời bào chữa, cũng không trình bày ý kiến tranh luận về tội danh, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, điều luật áp dụng, mức hình phạt do Kiểm sát viên đề nghị.

Kết thúc phần tranh luận tại phiên tòa bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết việc tàng trữ ma túy là sai, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo được sớm trở về với gia đình.

PHẦN NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa hội đồng xét xử nhận định như sau:

[ 1] Về hành vi quyết định tố tụng:

Các tài liệu chứng chứng cứ do Điều tra viên, Kiểm sát viên thu thập trong quá trình điều tra vụ án đã tuân thủ các quy định của pháp luật. Đó là các tài liệu hợp pháp chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo. Căn cứ vào các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đông Hưng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[ 2] Về căn cứ xác định có tội, căn cứ xác định vô tội:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa đúng như lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với cáo trạng số 86/CT - VKSĐH ngày 08/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng đã truy tố.

Lời khai nhận tội của bị cáo còn phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang do Công an huyện Đông Hưng lập hồi 10 giờ 55 phút ngày 15/7/2021, phù hợp với Kết luận giám định 273/KLGĐ-PC09 ngày 16/7/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình, phù hợp với lời khai của người chứng kiến là ông Nguyễn Văn T, anh Bùi Bá T1 và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Do vậy có đủ cơ sở kết luận: Hồi 10 giờ 00 phút ngày 15/7/2021, tại địa phận thôn Cổ Dũng 1, xã Đông La, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình, Nguyễn Văn H có hành vi tàng trữ trái 0,1722 gam ma túy (Không phẩy một nghìn bẩy trăm haimươi hai gam), loại hêroin với mục đích sử dụng bị tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma túy Công an huyện Đông Hưng phối hợp với Công an xã Đông La, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Điều 249.Tàng trữ trái phép chất ma túy

1.Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

....

c. Heroin, cocain, methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR -11cos khối lượng từ 0,1gam đến 05 gam;

.....

[3] Về tính chất mức độ hậu quả hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, gây mất trật tự an ninh an toàn xã hội. Bị cáo là người có nhân thân xấu có 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản, bản thân bị cáo, biết tác hại của ma túy, biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là bất hợp pháp nhưng vẫn tàng trữ ma túy để sử dụng. Vì vậy, việc đưa vụ án ra xét xử và áp dụng mét møc ¸n tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng răn đe giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

[ 4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng, lao động tự do không có thu nhập ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn, do vậy không nhất thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6]Về xử lý vật chứng: Số ma túy loại Heroin, thu giữ của H là chất Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

[7]Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định

Về nguồn gốc ma tuý: H khai mua của người phụ nữ nhưng không biết, tên, địa chỉ cụ thể của người này nên không có căn cứ để điều tra xử lý.

Về số tiền 300.000 đồng dùng để mua ma túy là do H lao động mà có.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”

2.Về hình phạt và điều luật áp dụng: Áp dụng Điểm c khoản 1 Điều 249, Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38; Điều 50, Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 01(một) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 15/7/2021.

3.Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy 0,1419 gam (Không phẩy một nghìn bốn trăm mười chín gam) ma túy loại Heroin được niêm phong, trong phong bì do phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình hoàn trả mẫu vật giám định, có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Đông Hưng và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Hưng ngày 08/10/2021.

4.Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án ngày 28/10/2021.

Cỡ chữ