- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Minh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 85/2021/HS-ST Ngày: 19-10-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Châu Nữ Thu Hân.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Hồng Thơ.
Ông Trần Văn Hải.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Hà – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh tham gia phiên tòa: Ông Lê Thành Hiếu– Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 10 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 67/2021/TLST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 232/2021/QĐXXST-HS ngày 24/8/2021 và Thông báo (Về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa sơ thẩm) số 224/TB-TA ngày 21/9/2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Minh H (tên gọi khác: H Heo), sinh năm x, tại Đồng Tháp; Nơi đăng ký thường trú: Tổ x, khóm y, Phường b, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp; Nơi sinh sống: Số nhà a, tổ b, khóm c, Phường s, thành phố , tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Minh P và bà Phan Thị M (chết); chung sống như vợ chồng với Trần Minh N; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ: Không. Bắt tạm giam: Ngày 31/5/2021. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Tháp. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 02/3/2021 Trần Minh H có nhu cầu sử dụng ma túy nên đón xe khách lên thành phố Hồ Chí Minh mua 1.000.000đồng ma túy của một người tên Duy (không rõ nhân thân và địa chỉ cụ thể), hẹn đến vòng xoay Phú Lâm thuộc Quận 6, thành phố Hồ chí Minh nhận ma túy. Có được ma túy Hiền về nhà chiết ra sử dụng được 02 lần, phần còn lại Hiền hàn kín bịch ma túy lại, rồi lấy tờ tiền mệnh giá 1.000đồng quấn lại giấu vào túi quần. Đến khoảng 17 giờ 50 phút ngày 06/3/2021 Công an Phường 6 nhận được tin báo của quần chúng nhân dân tại nhà Hiền số 148, thuộc Tổ 41, Khóm 5, Phường 6, thành phố Cao Lãnh đang diễn ra hoạt động sử dụng trái phép chất ma túy. Đến 18 giờ cùng ngày, Công an Phường kết hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế và ma túy tiến hành kiểm tra nhà Hiền phát hiện và thu giữ:
Tại vị trí bên trong túi quần phía trước, bên phải Hiền đang mặc có 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 1.000đồng được quấn lại, kiểm tra bên trong tờ tiền có 01 bịch nylon màu trắng hàn kín, bên trong chứa nhiều tinh thể rắn màu trắng (Hiền khai nhận đây là ma túy đá mua vào ngày 02/03/2021). Tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy được niêm phong trong phong bì màu trắng có đóng hình dấu tròn màu đỏ của “Công an Phường 6- Công an thành phố Cao Lãnh”.
Kiểm tra trong phòng ngủ của Trần Minh H phát hiện: 01 bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy gồm: 01 bình bằng thủy tinh, có nắp nhựa màu xanh, trên nắp có khoét 02 lỗ tròn, trong đó 01 lỗ gắn với một ống hút nhựa màu trắng, 01 lỗ gắn với một nỏ thủy tinh; 02 chai gas, loại nhỏ nhãn hiệu BLUESTAR; 02 bật lữa gas; 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng và 1.126.000đồng.
Tại kết luận giám định số 246/KL-KTHS ngày 08/3/2021 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp kết luận: Tinh thể rắn màu trắng được niêm phong trong phong bì màu trắng trên phong bì màu trắng có đóng hình dấu tròn màu đỏ của “Công an Phường 6- Công an thành phố Cao Lãnh” nêu trên gửi giám định là chất ma túy, có khối lượng 0,537gam loại Methamphetamine (số thứ tự 323, Danh mục II, Nghị định số 73 ngày 15/5/2018 của Chính phủ). Chất ma túy còn lại sau giám định có khối lượng 0,387gam, được niêm phong trong phong bì 250, hoàn lại cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Lãnh xử lý theo qui định pháp luật.
Phiếu trả lời kết quả số 141/BX ngày 06/3/2021 với Trần Minh H có dương tính Methamphetamine.
Cáo trạng số: 70/CT-VKS-TPCL ngày 16 tháng 7 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh đã truy tố bị cáo Trần Minh H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố trình bày luận tội và tranh luận: Xét hành vi của bị cáo Trần Minh H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Trần Minh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Minh H với mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo do bị cáo tàng trữ ma túy với mục đích sử dụng nên không phát sinh lợi nhuận và bị cáo không có nghề nghiệp ổn định.
Về xử lý vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử tuyên như phần quyết định của Cáo trạng đã nêu.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không tham gia tranh luận và lời nói sau cùng của bị cáo là xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Cao Lãnh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về căn cứ kết tội và điều luật áp dụng để định tội. Tại phiên tòa, bị cáo Trần Minh H thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án.
Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Lúc 18 giờ ngày 06/3/2021, tại số nhà a, tổ b, khóm c, Phường s, thành phố , tỉnh Đồng Tháp, Công an Phường 6 kiểm tra bắt quả tang bị cáo H có hành vi tàng trữ 0,537gam ma túy loại Methamphetamine.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Bị cáo là người đủ tuổi và có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ hành vi của bị cáo là nguy hiểm, thấy trước được tác hại, hậu quả của ma túy gây ra cho xã hội nhưng vẫn thực hiện là lỗi cố ý. Do vậy, với khối lượng ma túy mà bị cáo đã tàng trữ như trên thì bị cáo Trần Minh H đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Việc truy tố, xét xử bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, bị cáo có khả năng nhận thức để hiểu được tác hại của ma túy và những quy định cấm đoán của pháp luật đối với mọi hành vi phạm tội về ma túy. Nhưng để thỏa mãn nhu cầu ích kỷ của bản thân, bị cáo đã bất chấp tất cả và đi vào con đường tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng dần nhằm thỏa mãn cơn nghiện, hành vi của bị cáo không chỉ nguy hiểm cho xã hội mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, gây tác hại về nhiều mặt đến xã hội, ảnh hưởng cho sức khỏe của con người và là cầu nối của đại dịch HIV, đồng thời là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm nguy hiểm khác. Do đó, cần phải trừng trị bị cáo thật nghiêm khắc để giáo dục bị cáo và thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, tạo niềm tin và sự an tâm cho Nhân dân.
Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy phải có mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để trừng trị, giáo dục bị cáo, đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa tội phạm.
Do đó, quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt, điều luật áp dụng là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.
Ngoài hình phạt chính cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu ngân sách nhà nước 1.000đồng dùng để gói ma túy. Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định có khối lượng 0,387gam, được niêm phong trong phong bì 250; 01 bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy gồm: 01 bình bằng thủy tinh, có nắp nhựa màu xanh, trên nắp có khoét 02 lỗ tròn, trong đó 01 lỗ gắn với 01 ống hút nhựa màu trắng, 01 lỗ gắn với một nỏ thủy tinh; 02 chai gas, loại nhỏ nhãn hiệu BLUESTAR; 02 bật lữa gas; 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng.
Đối với 1.126.000đồng là tiền cá nhân của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho bị cáo là phù hợp.
Về các vấn đề khác: Đối với việc bị cáo cho rằng đã mua ma túy của người tên Duy, qua kết quả điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không biết đầy đủ họ tên, địa chỉ của Duy nên tách ra để tiếp tục điều tra, xử lý sau là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo Trần Minh H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Trần Minh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Trần Minh H 01 (một) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 31/5/2021.
Phạt bổ sung bị cáo Trần Minh H số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu ngân sách nhà nước 1.000đồng dùng để gói ma túy.
Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định có khối lượng 0,387gam, được niêm phong trong phong bì 250; 01 bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy gồm: 01 bình bằng thủy tinh, có nắp nhựa màu xanh, trên nắp có khoét 02 lỗ tròn, trong đó 01 lỗ gắn với 01 ống hút nhựa màu trắng, 01 lỗ gắn với một nỏ thủy tinh; 02 chai gas, loại nhỏ nhãn hiệu BLUESTAR; 02 bật lữa gas; 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng, tất cả đều đã qua sử dụng.
Hiện vật chứng đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp và chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/10/2021.
3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Trần Minh H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND TP. Cao Lãnh; - CQ CSĐT CA TP. Cao Lãnh; - CQ THAHS CA TP. Cao Lãnh; - Bộ phận HSNV CA TP. Cao Lãnh; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Châu Nữ Thu Hân |