- Tranh chấp gì? án hình sự — "L V H mua bán ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo L V H phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T D TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 85/2021/HS-ST Ngày 16-9-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T D - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội Đ xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Moong Công Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lương Khăm N;
Ông Thò Bá Tểnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vy Phương Thảo - Thư ký Toà án nhân dân huyện T D, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T D tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T D, tỉnh Nghệ An đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 64/2021/TLST-HS ngày 30 tháng 7 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2021/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: L V H, tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 06 tháng 10 năm 1997; tại huyện T D, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: B L, Xã X L, huyện T D, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: 6/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông L V V và bà L T T; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13 tháng 4 năm 2021 đến nay. (Có mặt).
- Người làm chứng : Anh L V Đ, Kh V N. (Vắng mặt không có lý do).
- Người chứng kiến: Anh L V B. (Vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 13/4/2021, khi L V H đang chơi ở nhà chị L Th Tr tại B L, xã X L, huyện T D, tỉnh Nghệ An (Trang và những người trong gia đình lúc này không có mặt tại nhà) thì có L V Đ và Kh V N đến hỏi mua Heroin. L V Đ hỏi và mua với H 01 gói ma túy được gói bằng giấy trắng kẻ ngang với giá 100.000đ, mua xong Đ và N đi về. Đến 15 giờ 30 phút, cùng ngày L V H đang chơi ở nhà chị L Th Tr thì có L V Đ và Kh V N quay lại tiếp tục hỏi mua ma túy sử dụng. Kh V N hỏi và mua với H 01 gói ma túy gói bằng giấy trắng kẻ ngang với giá 100.000đ, mua xong N và Đ đi về. Đến khoảng 17 giờ ngày 13/4/2021, khi L V H đang ở nhà chị L Th Tr thì bị Công an huyện T D vào kiểm tra, phát hiện bắt quả tang, thu giữ trong túi quần bên trái của H đang mặc 01 mảnh giấy trắng kẻ ngang bên trong đựng chất bột màu trắng và thu giữ trong túi quần bên phải hai tờ tiền mệnh giá 100.000đ.
Kết luận giám định số 592/KL-PC09(Đ2-MT) ngày 20/4/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của L V H gửi tới giám định là ma tuý (Heroine), số chất bột màu trắng thu giữ của L V H có khối lượng là 0,1 (không phẩy một) gam.
Cáo trạng số 68/CT-VKS-HS ngày 28 tháng 7 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T D đã truy tố L V H về tội:“Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố của Bản cáo trạng và đề nghị Hội Đ xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo: L V H từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Tịch thu số tiền 200.000đ bị cáo phạm tội mà có; Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo, xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến gì tranh luận, bào chữa bổ sung. Lời nói sau cùng trước Hội Đ xét xử vào phòng nghị án, bị cáo đề nghị Hội Đ xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để nhanh chóng trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội Đ xét xử nhận định như sau:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an huyện T D, tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T D, tỉnh Nghệ An quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo L V H đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai của người làm chứng, người chứng kiến đã được công bố công khai tại phiên tòa, phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ. Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận: Từ 15 giờ đến 15 giờ 30 phút, ngày 13/4/2021, tại nhà riêng của L Th Tr ở B L, xã X L, huyện T D, tỉnh Nghệ An; L V H đã có hành vi hai lần bán trái phép trái chất ma túy cho L V Đ và Kh V N thu số tiền 200.000đ. Bị cáo còn tàng trữ trái phép 0,1 gam heroin nhằm mục đích để sử dụng và bán lẻ kiếm lời; Hành vi mà bị cáo đã thực hiện và khối lượng vật chứng thu được đã cấu thành tội: Mua bán trái phép chất ma túy. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Như vậy quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân huyện T D đối với bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ đúng pháp luật.
Tính chất, mức độ hậu quả của vụ án: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự đã cố ý thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là một trong những nguyên nhân gây nên các tệ nạn xã hội và tội phạm. Vì vậy việc cách ly bị cáo ra khỏi cộng Đ xã hội một thời gian nhất định để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung là cần thiết.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Thái độ khai báo của bị cáo là thành khẩn, ăn năn hối cải, bị cáo tự thú nên Hội Đồng xét xử áp dụng điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như lời đề nghị của kiểm sát viên là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và khối lượng vật chứng thu được từ vụ án.
Hình phạt bổ sung: Kết quả xác minh tài sản của bị cáo chỉ đủ duy trì cuộc sống thiết yếu hàng ngày và không có tài sản nào được tạo lập từ việc phạm tội nên chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên.
Người đàn ông đi xe máy lai chở bị cáo đi mua ma túy và người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo không rõ lai lịch nên cơ quan cảnh sát điều tra chưa có cơ sở để điều tra làm rõ.
Bị cáo thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy cho L V Đ và Kh V N tại nhà chị L Th Tr (chủ sở hữu ngôi nhà) do chị trang không có ở nhà và cũng không biết việc bị cáo sử dụng nhà của mình làm địa điểm buôn bán ma túy nên cơ quan điều tra không xử lý L Th Tr là phù hợp theo quy định của pháp luật.
Xử lý vật chứng: Tiêu hủy vỏ bao niêm phong vật chứng.
Biện pháp tư pháp: Tịch thu số tiền 200.000 đồng sung quỹ ngân sách nhà nước.
Án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
- Tuyên bố bị cáo L V H phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.
- Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 251, điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt: L V H 07 (Bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/4/2021.
- Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tiêu hủy vỏ bao niêm phong vật chứng của vụ án (Đặc điểm và tình trạng vật chứng như trong biên bản giao nhận số 89 ngày 28/7/2021 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T D, tỉnh Nghệ An và Chi cục Thi hành án dân sự huyện T D, tỉnh Nghệ An);
- Biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, tịch thu số tiền 200.000 Đ (Hai trăm nghìn Đồng) sung quỹ ngân sách nhà nước.
- Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH bị cáo L V H phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn Đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 16/9/2021.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh NA; - VKSND huyện T D; - Công an huyện T D; - Bị cáo, Trại tạm giam; - Sở Tư Pháp tỉnh Nghệ An; - Chi cục THADS huyện T D; - Lưu: VP, hồ sơ vụ án | TM. HỘI Đ XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Moong Công Hải |