- Tranh chấp gì? án hình sự — "Thành - Ninh - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Lò Văn N, Cầm Văn T phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự giải
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 85/2021/HS-ST Ngày 13 tháng 8 năm 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN - TỈNH SƠN LA
- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nông Văn Thịnh
Các hội thẩm nhân dân: Ông Lò Đức Ngọc- Nghề nghiệp: Bí thư huyện đoàn Mai Sơn; ông Lò Trung Dũng- nghề nghiệp: Giáo viên.
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Duyến– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tâm- Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 80/2021/HSST ngày 21 tháng 7 năm 2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2021/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2021 đối với các bị cáo:
1. Lò Văn N. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 01.8.2003 (tính đến thời điểm phạm tội đạt 17 tuổi, 09 tháng, 09 ngày), tại Mai Sơn, Sơn La. Nơi cư trú: Bản Phiêng Quài, xã Chiềng Ban, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Nghề nghiệp: Trồng trọt. Trình độ học vấn: 09/12 Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Thái. Tôn giáo: Không. Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không. Con ông Lò Văn Thiết, sinh năm 1974 và bà Lò Thị Vang, sinh năm 1976. Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/5/2021 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
2. Cầm Văn T. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 16.6.2002, tại T phố Sơn La, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: Bản Nam, xã Hua La, T phố Sơn La, tỉnh Sơn La. Nghề nghiệp: Trồng trọt. Trình độ học vấn: 12/12. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Thái. Tôn giáo: Không. Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không. Con ông: Cầm Văn Ương, đã chết và bà Lò Thị Hóa, sinh năm 1981. Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/5/2021 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
Người đại diện hợp pháp và bào chữa cho bị cáo Lò Văn N: Ông Lò Văn Thiết, sinh năm 1974 và bà Lò Thị Vang, sinh năm 1976. Trú quán: Bản Phiêng Quài, xã Chiềng Ban, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Có mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Lò Thị Hóa, sinh năm 1981. Trú quán: Bản Nam, xã Hua La, T phố Sơn La, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 09.05.2021 khi đang chơi tại bản Nam, xã Hua La, T phố Sơn La, Lò Văn N rủ Cầm Văn T đi mua ma túy về sử dụng, T đồng ý. T điều khiển xe mô tô hiệu YAMAHA Sirius, biển kiểm soát 26B1- 964.16 chở N đến quán điện tử của Nguyễn Văn Đức, trú tại thôn 6, xã Chiềng Mung, huyện Mai Sơn. Tại đây N gặp một người tự giới thiệu tên Kiểm và N đặt vấn đề mua 02 viên hồng phiến với giá 200.000VNĐ, N đưa cho Kiểm 500.000VNĐ nhưng Kiểm nợ lại 300.000VNĐ và hẹn tối ngày 10.5.2021 sẽ trả, N đồng ý. Sau đó, N và T điều khiển xe mô tô đến khu vực rừng ở bản Nam, xã Hua La, T phố Sơn La và sử dụng hết 02 viên hồng phiến.
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 10.05.2021, N mượn điện thoại di động của chị gái là Lò Thị Nga, trú tại bản Phiêng Quài, xã Chiềng Ban, huyện Mai Sơn nhắn tin rủ T đi mua ma túy để sử dụng, T đồng ý (N không nói cho Nga biết việc đi mua ma túy). Sau đó, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 26B1- 964.16 đến nhà đón N đi đến dốc bản Mạt, xã Chiềng Mung, huyện Mai Sơn thì gặp Kiểm tại đó. Kiểm nói không có tiền trả nợ, nếu lấy ma túy thì Kiểm đi lấy cho, T và N đồng ý. Kiểm mượn xe của T nói 05 phút sau sẽ quay lại rồi đi theo hướng T phố Sơn La. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, có một người đàn ông các bị cáo không quen biết đi xe mô to của T quay lại đưa cho T 01 bao thuốc lá màu xanh thẫm hiệu 555 và nói “có hàng trong đó”, rồi đi bộ về hướng T phố Sơn La. T đưa bao thuốc lá cho N và kiểm tra trong bao thuốc lá có 02 điếu thuốc lá, trong đó tại vị trí đầu của 01 điếu thuốc lá có chứa 01 gói giấy bạc màu trắng chứa 03 viên hồng phiến. Sau đó, T và N bị Tổ công tác Công an xã Chiềng Mung, huyện Mai Sơn phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng gồm: 01 bao thuốc lá màu xanh thẫm hiệu 555 chứa 02 điếu thuốc và tại vị trí đầu một điếu thuốc có 01 gói bằng giấy bạc chứa 03 viên nén màu hồng trên bề mặt mỗi viên có ký hiệu WY, thu giữ 01 xe mô tô hiệu YAMAHA hiệu Sirius biển kiểm soát 26B1- 964.16, 01 điện thoại di động màu đen, hiệu OPPO A5S trong cốp xe mô tô.
Ngày 11.5.2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn phối hợp cùng Phòng Kỹ thuật hình sự công an tỉnh Sơn La tiến hành bóc mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng vật chứng thu giữ của Lò Văn N và Cầm Văn T có khối lượng 0,29 gam, trích rút toàn bộ làm mẫu giám định ký hiệu M.
Ngày 16.5.2021, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La ra bản kết luận giám định số 996/KLMT, kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu M là ma tuý. Loại Methamphetamine. Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,29 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ được là 0,29gam, loại methamphetamine”.
Tại phiên toà, các bị cáo Lò Văn N và Cầm Văn T đã T khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho các bị cáo.
Bản cáo trạng số: 56/CT-VKS ngày 21/7/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn đã truy tố các bị cáo Lò Văn N, Cầm Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Sau khi kết thúc phần thẩm vấn, đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội đối với bị cáo và đã giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo theo cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Lò Văn N, Cầm Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 58, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 91 và Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Lò Văn N từ 10 tháng đến 13 tháng tù.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 58, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Cầm Văn Thanh từ 13 đến 16 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); áp dụng khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong mẫu gửi giám định đã bóc mở chứa 0,18gam chất bột màu hồng, không sử dụng hết trong quá trình giám định; 01 bao thuốc lá hiệu 555, màu xanh thẫm (chứa 02 điếu thuốc lá), 01 mảnh giấy bạc màu trắng và 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.
Chấp nhận việc Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Lò Thị Hóa mẹ đẻ bị cáo Cầm Văn T 01 xe máy hiệu YAMAHA Sirius màu trắng đen, biển kiểm soát 26B1- 964.16 và 01 điện thoại di động màu đen, hiệu OPPO A5S.
Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, mỗi bị cáo là 200.000VNĐ.
Bị cáo Lò Văn N, Cầm Văn T cùng người đại diện hợp pháp tự bào chữa: Nhất trí với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Lò Thị Hóa tranh luận: Nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về phần vật chứng.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mai Sơn, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, truy tố, và tại phiên tòa hôm nay không có người nào có ý kiến hoặc khiến nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét hành vi của các bị cáo thì thấy rằng: Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của các bị cáo đã thực hiện. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 23 giờ 30 phút ngày 10.5.2021 của Công an xã Chiềng Mung, huyện Mai Sơn; biên bản mở niêm phong, cân tịnh, trích rút mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng; phù hợp với kết luận giám định số 996/KLMT ngày 16.5.2021 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Sơn La; phù hợp với biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung đối với các bị can và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua tranh luận không có gì mâu thuẫn, tại phiên tòa không phát sinh tình tiết, chứng cứ mới.
Như vậy, có đủ căn cứ để kết luận: Ngày 10.5.2021 các bị cáo Lò Văn N, Cầm Văn T đã mua 0,29 gam methamphetamine mục đích để sử dụng và đã bị Tổ công tác Công an xã Chiềng Mung, huyện Mai Sơn phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng. Do vậy có đầy đủ cơ sở kết luận các bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Viện kiểm sát truy tố và Tòa án xét xử các bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai cho các bị cáo.
Xét thấy tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, Hội đồng xét xử thấy rằng: Các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm về hình sự, nhận thức được việc mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng các bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật để phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội, tiếp tay cho các đối tượng hám lời có cơ hội lưu thông buôn bán ma túy. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm, vì lẽ đó khi lượng hình cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.
Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm, các bị cáo đều có thái độ T khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự sẽ được Hội đồng xét xử xem xét áp dụng đối với các bị cáo.
Xét vai trò của từng bị cáo trong vụ án, Hội đồng xét xử thấy rằng: Đây là vụ án có đồng phạm ở thể giản đơn. Lò Văn N rủ Cầm Văn T đi mua ma túy, là người bỏ tiền và trực tiếp trao đổi mua ma túy để sử dụng, nên bị cáo giữ vai trò chính trong vụ án. Cầm Văn T sau khi được Lò Văn N rủ mua ma túy đã đồng tình ngay, bị cáo đã dùng xe mô tô thuộc quyền quản lý của mình để chở N đi mua ma túy với mục đích để có ma túy sử dụng , nên bị cáo là đồng phạm trong vụ án.
Khi thực hiện tội phạm bị cáo Lò Văn N dưới 18 tuổi, do đó bị cáo được hưởng chính sách hình sự tại Chương XII quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, cụ thể tại khoản 2 Điều 101 BLHS quy định, khi áp dụng hình phạt tù có thời hạn thì mức cao nhất được áp dụng đối với bị cáo không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định tương xứng với tính chất, vai trò của từng bị cáo trong vụ án mới có tác dụng cải tạo giáo dục đối với các bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Cầm Văn T không có thu nhập ổn định, sống phụ thuộc gia đình, không có tài sản riêng. Bị cáo Lò Văn N khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi. Do vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Đối với toàn bộ vật chứng đã thu giữ của các bị cáo, áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự , khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự giải quyết như sau:
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong mẫu gửi giám định đã bóc mở chứa 0,18gam chất bột màu hồng, không sử dụng hết trong quá trình giám định; 01 bao thuốc lá hiệu 555, màu xanh thẫm (chứa 02 điếu thuốc lá), 01 mảnh giấy bạc màu trắng và 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.
Chấp nhận việc Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Lò Thị Hóa mẹ đẻ bị cáo Cầm Văn T là chủ sở hữu hợp pháp 01 xe máy hiệu YAMAHA Sirius màu trắng đen, biển kiểm soát 26B1- 964.16 và 01 điện thoại di động màu đen, hiệu OPPO A5S vì khi bị cáo sử dụng những tài sản này bà Hóa không biết mục đích của các bị cáo.
Về nguồn gốc chất ma tuý: Các bị cáo khai mua của một người đàn ông tên Kiểm không biết họ và địa chỉ tại khu vực bản Mạt, xã Chiềng Mung, huyện Mai Sơn, việc mua bán không ai biết. Ngoài lời khai của các bị cáo không có chứng cứ nào khác để chứng minh, do đó Cơ quan điều tra không có cơ sở để mở rộng vụ án là phù hợp với quy định.
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Lò Văn N, Cầm Văn T phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
1. Áp dụng điểm c khoản 1Điều 249; Điều 58, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 91, 101 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Xử phạt bị cáo Lò Văn N 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 10.5.2021).
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 58, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Xử phạt bị cáo Cầm Văn T 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 10.5.2021).
2. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự , khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong mẫu gửi giám định đã bóc mở chứa 0,18gam chất bột màu hồng, không sử dụng hết trong quá trình giám định; 01 bao thuốc lá hiệu 555, màu xanh thẫm (chứa 02 điếu thuốc lá), 01 mảnh giấy bạc màu trắng và 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.
Chấp nhận việc Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Lò Thị Hóa mẹ đẻ bị cáo Cầm Văn T chủ sở hữu tài sản là 01 xe máy hiệu YAMAHA Sirius màu trắng đen, biển kiểm soát 26B1- 964.16 và 01 điện thoại di động màu đen, hiệu OPPO A5S.
3. Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, mỗi bị cáo là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
Báo cho các bị cáo, người đại diện hợp pháp và người bào chữa cho bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - Sở tư pháp tỉnh Sơn La; - Viện KSND huyện Mai Sơn; - Công an huyện Mai Sơn; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Sơn La; - Chi cục THADS huyện Mai Sơn; - Bị cáo; - Người đại diện hợp pháp; - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; - Lưu: Hồ sơ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nông Văn Thịnh |