- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thanh D phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Trần Thanh D.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 85/2021/HS-PT Ngày 07-10-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Hiếu
Các Thẩm phán:
Ông Huỳnh Ngọc Thiện
Ông Phạm Trung Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hảo – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Dương Thúy Nga – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 10 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 98/2021/TLPT-HS ngày 29 tháng 6 năm 2021, đối với bị cáo Trần Thanh D do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 71/2021/HSST ngày 18 tháng 5 năm 2021 của Tòa án nhân dân thị xã P, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Bị cáo có kháng cáo:
Trần Thanh D, sinh năm 2000 tại tỉnh Bạc Liêu; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Ấp C, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn N (không rõ năm sinh) và bà Nguyễn Thị B.V (không rõ năm sinh); bị cáo sống chung như vợ chồng với Nguyễn Thị T.V, sinh năm 2001 và có 01 con sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 13/01/2021, chuyển tạm giam từ ngày 19/01/2021 (bị cáo có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Thanh D là người nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng là ma túy tổng hợp. Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên chiều tối ngày 13/01/2021, D dùng điện thoại di động hiệu Huwei, màu xanh đen liên lạc với một người đàn ông tên C (không rõ nhân thân, lai lịch) để mua 03 viên thuốc lắc và 01 gói ma túy dạng khay với giá 3.900.000 đồng. C đồng ý và hẹn D đến khu vực giáo xứ N thuộc khu phố N, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để giao dịch mua bán chất ma túy. Dang đến địa điểm nêu trên gặp C để nhận 03 viên thuốc lắc được cất giấu trong một gói nylon hàn kín và 01 gói ma túy dạng khay rồi trả tiền cho C. Sau đó D bắt xe ôm đi về khu vực trước khách sạn S, địa chỉ: đường P, tổ 8, khu phố , phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu với mục đích thuê phòng để sử dụng ma túy. Khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày, khi D đang cầm 02 gói ma túy nêu trên trong tay trái và đứng trước khách sạn S thì thấy Công an tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và Công an phường P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đến kiểm tra, phát hiện, D đã vứt 02 gói ma túy đang cầm trên tay xuống nền bê tông ngay vị trí D đang đứng nên Cơ quan điều tra đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng gồm: 01 gói nylon, hàn kín, bên trong có 03 viên nén và 01 gói nylon, hàn kín, bên trong chứa chất bột mịn, không màu, 01 điện thoại di động hiệu Huwei, màu xanh đen.
Tại bản Kết luận giám định số 110/GĐMT-PC09 (Đ2) ngày 22/01/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu kết luận:
- Ba viên nén màu xanh, có hình dạng quả lựu đạn (mẫu A1), được niêm phong trong một phong bì màu trắng (số thứ tự 01), có hình dấu của Công an phường P - Công an thị xã P, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, cùng các chữ ký ghi họ tên: Trung tá Trịnh Minh C, Mai Việt K, Nguyễn Quốc T, Nguyễn Tuấn V, Trần Thanh D, gửi đến giám định có tổng khối lượng 1,0791 gam, là ma túy, loại MDMA.
- Mẫu chất bột, màu trắng chứa trong 01 (một) gói nylon hàn kín (mẫu A2), được niêm phong trong một phong bì màu trắng (số thứ tự 02), có hình dấu và chữ ký như trên mục 1, gửi đến giám định có khối lượng 1,7143 gam, là ma túy, loại Ketamine.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 71/2021/HSST ngày 18-5-2021 của Tòa án nhân dân thị xã P, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Thanh D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c, g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Thanh D 03 (Ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13 tháng 01 năm 2021.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 26-5-2021, bị cáo Trần Thanh D có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt để sớm về phụ giúp gia đình, làm người có ích cho xã hội.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu phát biểu quan điểm về vụ án: Tại phiên tòa bị cáo không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì mới, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo tương xứng với hành vi của bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 71/2021/HS-ST ngày 18-5-2021 của Tòa án nhân dân thị xã P, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Trần Thanh D gửi trong thời hạn luật định nên được chấp nhận xem xét theo trình tự thủ tục phúc thẩm.
Về tội danh và điều luật áp dụng: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phiên tòa sơ thẩm và phù hợp các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:
Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 13/01/2021 tại khu vực trước khách sạn S, địa chỉ: đường P, tổ 8, khu phố Q, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Trần Thanh D có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy dạng MDMA, có khối lượng 1,0791 gam và 01 gói ma túy dạng Ketamine, có khối lượng 1,7143 gam nhằm mục đích sử dụng thì bị bắt quả tang cùng tang vật. Trần Thanh D khai nhận số ma túy trên là của D, cất giấu nhằm mục đích để sử dụng.
Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Trần Thanh D phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tuy nhiên khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ gồm 1,0791gam ma túy dạng MDMA và 1,7143 gam ma túy dạng Ketamine là phù hợp với quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng điểm c, g khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự đối với hành vi phạm tội của bị cáo là chưa phù hợp nên cần rút kinh nghiệm.
Về kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự an toàn xã hội và chế độ quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy. Bị cáo nhận thức rõ ma túy đá, cụ thể là MDMA và Ketamine là chất gây nghiện, rất độc hại và hiện nay đang là hiểm họa xã hội, là nguyên nhân của nhiều loại tội phạm khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương và cho sức khỏe của nhiều người sử dụng ma túy. Nhưng vì nhu cầu ích kỷ của bản thân, ý thức coi thường pháp luật và các chuẩn mực đạo đức xã hội nên bị cáo D đã tàng trữ trái phép chất ma túy để thỏa mãn cơn nghiện. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian với mức án 03 năm tù là phù hợp với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng chưa cung cấp được tình tiết giảm nhẹ gì mới nên kháng cáo của bị cáo không có căn cứ.
Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí phúc thẩm.
Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Trần Thanh D.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 71/2021/HS-ST ngày 18-5-2021 của Tòa án nhân dân thị xã P, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu;
1. Tuyên bố bị cáo Trần Thanh D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt: Trần Thanh D 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13-01-2021.
2. Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000đ (hai trăm ngàn đồng).
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 07-10-2021).
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh BR-VT; - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT; - PV 27 Công an tỉnh BR-VT; - TAND Tx Phú Mỹ; - VKSND Tx Phú Mỹ; - Công an Tx Phú Mỹ; - Chi cục THADS Tx Phú Mỹ; - Bị cáo; - Lưu: Tòa Hình sự, Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Hiếu |