- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "Đặng Ngọc H và Trần Thị Ngoc H1 ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Đặng Ngọc H được ly hôn bà Trần Thị Lan H1.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 151 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 152 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 85/2021/HNGĐ-ST Ngày 07-7-2021 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Vân Thúy.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Mai Vinh;
Ông Đỗ Xuân Quyết
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
Ngày 07 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 69/2021/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 5 năm 2021 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 133/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 6 năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Đặng Ngọc H; nơi cư trú: Số 254 Tôn Đức Thắng, phường Lam Sơn, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng; có mặt;
- Bị đơn: Bà Trần Thị Lan H1; nơi cư trú: Số 71 Mê Linh, phường An Biên, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, hiện trú tại: Am Heidelsteigstr.6, 96052 Bamberg, West Germany (Cộng hòa Liên bang Đức); vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn, các bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là ông Đặng Ngọc H trình bày:
Ông H và bà Trần Thị Lan H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và đăng ký kết hôn tại Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng ngày 11 tháng 12 năm 2009. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian, sau thường xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng về quan điểm và lối sống. Mâu thuẫn ngày càng căng thẳng và trầm trọng nhất từ năm 2019. Từ đó đến nay ông bà đã sống ly thân, không còn quan hệ gì về mặt tình cảm và kinh tế. Hai bên gia đình đã hòa giải nhưng không có kết quả. Nay nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm với nhau, không còn khả năng đoàn tụ nên ông Đặng Ngọc H đã làm đơn xin được ly hôn với bà Trần Thị Lan H1.
Về con chung: Ông Đặng Ngọc H và bà Trần Thị Lan H1 không có con chung.
Về tài sản chung: Ông bà tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Đơn yêu cầu và các đơn đề nghị, bản tự khai của bà Trần Thị Lan H1 có hợp pháp hóa lãnh sự trình bày như sau: Thống nhất với lời khai của ông Đặng Ngọc H về quan hệ hôn nhân, lý do, nguyên nhân mâu thuẫn. Bà Trần Thị Lan H1 nhất trí, đồng ý với yêu cầu xin ly hôn của ông Đặng Ngọc H và đề nghị Tòa án giải quyết cho bà và ông H được ly hôn để sớm ổn định cuộc sống.
Về con chung: Bà Trần Thị Lan H1 và ông Đặng Ngọc H không có con chung.
Về tài sản chung: Bà Trần Thị Lan H1 và ông Đặng Ngọc H tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về tố tụng:
Về thẩm quyền: Ông Đặng Ngọc H làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết việc ly hôn với bà Trần Thị Lan H1 hiện đang cư trú tại Cộng hòa Liên bang Đức. Ông Đặng Ngọc H có địa chỉ cư trú tại Cộng hòa Liên bang Đức, hiện đang tạm trú tại thành phố Hải Phòng. Theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm b khoản 1 Điều 39, Điều 469, Điều 470 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
Về sự vắng mặt của đương sự: Bà Trần Thị Lan H1 đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ và có đơn xin xét xử vắng mặt có hợp pháp hóa lãnh sự. Vì vậy, căn cứ khoản 2 Ðiều 227, Ðiều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Trần Thị Lan H1 và công bố lời khai, đơn đề nghị của bà Trần Thị Lan H1.
- Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Ông Đặng Ngọc H và bà Trần Thị Lan H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 11 tháng 12 năm 2019 tại Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng. Theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Ông Đặng Ngọc H và bà Trần Thị Lan H1 thống nhất trình bày nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm và lối sống, hai người thường xuyên xảy ra mâu thuẫn nên cùng thuận tình yêu cầu ly hôn do ông bà đã không còn quan hệ gì về mặt tình cảm và kinh tế từ năm 2019 cho đến nay. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa ông H và bà H1 đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 55, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Đặng Ngọc H và bà Trần Thị Lan H1.
Về con chung: Ông Đặng Ngọc H và bà Trần Thị Lan H1 không có con chung nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.
Về tài sản chung: Ông H và bà H1 thống nhất tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Đặng Ngọc H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 51, 55, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 151, Điều 152, Điều 153, Điều 154, khoản 1 Điều 228, Điều 273, Điều 469, Điều 470, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Đặng Ngọc H được ly hôn bà Trần Thị Lan H1.
2. Về con chung: Ông Đặng Ngọc H và bà Trần Thị Lan H1 không có con chung, nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết.
3. Về tài sản chung: Ông Đặng Ngọc H và bà Trần Thị Lan H1 đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về án phí: Ông Đặng Ngọc H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí Tòa án số 0018835 ngày 19 tháng 5 năm 2021 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng; ông Đặng Ngọc H đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Ông Đặng Ngọc H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Bà Trần Thị Lan H1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
6. Về quyền yêu cầu thi hành án: Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014.
| Nơi nhận: - VKSND TP Hải Phòng; - Cục THADS TP Hải Phòng; - UBND thành phố Hải Phòng; - Đương sự; - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trần Thị Vân Thúy |