vanban.org

Bản án 85/2021/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Nam Định Tuyên án 13/12/2021 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 13/12/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận ột phần yêu cầu hởi iện đ i lại tài sản là quyền sử dụng đất của ông Phạ Tiến H đối với anh Phạ Văn B.

Buộc vợ chồng anh Phạ Văn B và chị Đặng Thị Y phải có trách nhiệ tự tháo rỡ tường ao trả cho vợ chồng ông Phạ Tiến H, bà Phạ Thị M với diện tích đất 2,1m2, có các cạnh như sau: Cạnh phía Na giáp đất của ông H, từ điể A đến B dài 0,75 t; cạnh B c giáp tường ao y gạch đỏ cũ, từ điể D đến điể C dài 0,7… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp quyền sử dụng đất"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận ột phần yêu cầu hởi iện đ i lại tài sản là quyền sử dụng đất của ông Phạ Tiến H đối với anh Phạ Văn B.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng d n sự nă; Điều 148 Bộ luật Tố tụng d n sự nă; Điều 166 Bộ luật d n sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2021/DS-PT
Ngày 13-12-2021
V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành ph n H i đ ng xét x phúc th m g m có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lại Văn Tùng

C c Thẩm ph n:

Bà Vũ Thị Thu

Ông Nguyễn Tiến Dũng

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Quỳnh - Thư T a án nh n d n t nh Na Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên toà:

Ông Trần Mạnh Trường - Kiể sát viên.

Ngày 13 tháng 12 nă 2021 tại trụ sở Toà án nh n d n t nh Na Định t ử phúc th công hai vụ án thụ l số 39/2021/TLPT-DS ngày 08-10-2021 về việc Tranh chấp quyền sử dụng đất.

Do ản án d n sự s th số 09/2021/DS-ST ngày 09 tháng 6 nă 2021 của T a án nh n d n huyện Trực Ninh, t nh Na Định ị háng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra t ử số 152/2021/QĐ-PT ngày 29 tháng 10 nă 2021 gi a các đư ng sự:

- Nguyên đơn: Ông Phạ Tiến H, sinh nă 1945; Địa ch : Xóm 4 T, xã L, huyện T, t nh N.

- Bị đơn: Anh Phạ Văn B, sinh nă 1975; Địa ch : Xó 4 T, ã L, huyện T, t nh N.

- Người bảo vệ quyền lợi ích hợp ph p cho anh Phạm Văn B: Ông Đà Huy H1 - Luật sư của V ph ng luật sư C thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Phạ Thị M, sinh nă 1951; Địa ch : Xó 4 T, ã L, huyện T, t nh N.

2. Chị Đặng Thị Y, sinh nă 1972; Địa ch : Xó 4 T, ã L, huyện T, t nh N.

- Người làm chứng:

1. Chị Nguyễn Thị T, sinh nă 1978; Địa ch : Xó 4 T, ã L, huyện T, t nh N.

2. Ông Nguyễn Tiến Y1; Địa ch : Xó 4 T, ã L, huyện T, t nh N.

Tại phiên toà phúc th : Ông H, bà M, anh B, chị Y, chị T có ặt; ông Y1 v ng ặt có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đ n hởi iện, ản tự hai, nguyên đ n ông Phạ Tiến H trình bày: Gia đình ông đang sử dụng thửa đất 3103 diện tích 505 2, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dựng đất nă 1995, đến nă 2000 ông cho con trai tên Phạ Việt V (anh V chết nă 2017) ột phần đất để ra ở riêng, hi cho có nhờ ông Nguyễn Tiến Y1 (e rể) đến đo đất hộ, hông có giấy tặng cho, ch ằng lời nói, ông cho chiều rộng hướng B c và hướng Na đều 05 t, chiều dài theo thổ đất có cạnh Đông giáp ngõ ó , phía T y giáp đất vườn nhà ông. Ngay nă 2000 anh V có y 2 gian nhà cấp 4, chiều rộng 05 t, chiều dài nhà cả hiên dài 06 mét, ông cho thê 01 t ở hồi nhà phía T y là lối đi ra sau nhà, dẫn đến đất của con ông cạnh phía T y giáp nhà ông có hình thước thợ, 01 phần trước cửa nhà từ nhà cấp 4 cũ ra đến đường rộng 5 t đất trống chưa y dựng gì, từ nhà cấp 4 về phía sau nhà rộng 6 t. Nă 2001 anh V án cho anh Phạ Văn B toàn ộ nhà đất, việc ua án gi a anh V và anh B như thế nào ông hông iết. Ngay nă 2001 anh B nhận đất và y tường ao quanh nhà rộng 05

t, Nă 2005 vợ chồng ông vào Miền Na ở với con, nhà ở hóa cửa hông nhờ ai chông coi, đến nă 2017 ông ới về quê, hi về ông thấy anh B xây nhà hông đúng hiện trạng đất, anh B đặt đường ống nước lấn sang đất của gia đình ông rộng 25c , dài 16,5 t. Tường ao lối đi ra sau nhà cấp 4 cũ, anh B lấn sang 01 t, dài 2,8 ; Tổng diện tích đất anh B lấn của nhà ông hoảng 10 2. Nă 2018 và nă 2019 ông đề nghị UBND ã giải quyết thì anh B uất trình iên ản àn giao nhà và đất ở, đề ngày 18-7-2001 có ghi diện tích hác với diện tích đất ông cho con ông, trong iên ản có ghi tên ông và ch

của ông, ông hẳng định là ông hông iết gì về V ản này, đ y là V ản do anh B là giả có sự tiếp tay của ông Đinh Xu n N cán ộ địa chính ã. Quan điể của ông yêu cầu anh B phải trả lại ông diện tích đất đã lấn chiế 10 2 và hông chấp nhận giấy àn giao đất đề ngày 18-7-2001 do ông N lập.

* Tại ản tự hai và quá trình tố tụng tại T a án ị đ n anh Phạ Văn B và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Đặng Thị Y cùng có lời hai trình ày chung: Nă 2001 vợ chồng anh B ua đất của vợ chồng anh V, hai bên có lập iên ản ngày 18-7-2001 do ông Đinh Xu n N lập tại nhà ông H. Anh B xác định hông lấn chiế đất của ông H, anh ua đất và sử dụng đất về các cạnh đúng như iên ản lập ngày 18-7-2001. Anh B đề nghị T a án giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Tại ản tự hai chị Nguyễn Thị T (vợ anh V) trình bày: Nă 1998 vợ chồng chị được ố ẹ (ông H, bà M) cho thổ đất có chiều ặt đường rộng 5

t, chiều dài o dài hết thổ đất. Nă 1999 vợ chồng anh chị có y 01 ngôi nhà 02 gian cấp 4 hết chiều ngang 5 t, do hông có lối ra sau nhà, ông H, bà M cho thê 01 t giáp nhà cấp 4 để là lối đi ra sau nhà. Nă 2000 vợ chồng chị án nhà đất cho vợ chồng anh B, khi bán và đo đất cho anh B có ông H, bà M, ông Y1, anh V c n chị T hông có ặt. Đến hi giao tiền anh V ảo chị T ký tên Phạ Tiến H để nhận tiền, hi chị hông đọc lại iên ản.

* Tại biên ản lấy lời hai ông Nguyễn Tiến Y1 trình bày: Ông là e rể của ông H, nă 2000 ông H có cho anh V đất là nhà, hi đo đất có vợ chồng ông H, vợ chồng anh V hông có thôn đội hoặc người ngoài chứng iến, hông lập iên ản. Diện tích đất cho anh V đúng như lời trình ày của ông H và bà M. Do thời gian đã l u ông Y1 hông nhớ hết các tình tiết sự việc nên ông Y1 hông cung cấp gì thê .

* T a án nh n d n huyện Trực Ninh ết hợp với chính quyền địa phư ng xã Liê Hải và các c quan chuY ôn về đo đạc th định toàn ộ thửa đất của anh B. Kết quả đo đạc thực tế, cạnh Na giáp đường ó dài 5,25 t, cạnh T y giáp đất ông H có hai đoạn hình thước thợ, hình 2 dài 16,5m + hình 1 dài 8,8 , cạnh Đông giáp ngõ dài 23,6 t, cạnh B c dài 06 t. Tổng diện tích 134,9m2. Ông H cho rằng gia đình anh B lấn chiế phần đất, cạnh phía T y của nhà anh B đặt đường ống thoát nước, (H2) rộng 25c , dài 16,5 và (H1) tường ao dài 2,8 t, rộng 01 t. Tổng 6,9 2. Đất có trị giá theo thị trường là 1.700.000đồng/ 1 2. Trên phần đất đang tranh chấp (H1) 8,8 t tường ao trong đó tường ao y gạch đỏ dài 06 t, cao 1,53 và tường y gạch i dài 2,8 , cạnh thước thợ rộng 0,75 c , cao 0,53 trên rào lưới B40 và ái tôn.

* Tại iên ản là việc ngày 14-4-2021 đại diện chính quyền địa phư ng cho iết: Nă 2000 ông H, bà M có cho con trai là anh Phạ Việt V đất để là nhà ở, hi cho đất hông có V ản giấy tờ gì. Anh V đã là nhà cấp 4 có chiều rộng 05 t, chiều dài cả hiên nhà 06 t, ông H cho anh V thê 01 t rộng ở phía T y để là lối ra sau nhà, cho nên cạnh T y thổ đất có hình thước thợ, trước cửa nhà anh V có ột hoảng s n, nên ông H cho anh V thê 01 t từ phần nào thì hông rõ vì hi cho hông có giấy tờ, hông có căn cứ chứng M. Nă 2001 anh V án đất cho vợ chồng anh B, ông Đinh Xu n N cán ộ địa chính ã Liê Hải đã lập iên ản ác định các cạnh của thửa đất, nă 2018 nă 2019 ông H có đ n đề nghị quyết tranh chấp đất, ông H đề ghị anh B trả lại diện tích đất y tường ao lấn chiế có chiều rộng 0,75

2,8 = 2,1 2. UBND ã đã h a giải nhiều lần và đã đo thực địa. Tại iên ản h a giải ngày 28-6-2019 anh B đã đồng trả lại cho ông H và bà M diện tích đất 2,1m2 nhưng sau đó hai gia đình hông thống nhất được nên h a giải hông thành. Quan điể của chính quyền địa phư ng đề nghị T a án giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Tại ản án d n sự s th số 09/2021/DS-ST ngày 09 tHg 6 nă 2021 của T a án nh n d n huyện Trực Ninh, t nh Na Định. Căn cứ Điều 166; 175; 176 Bộ luật d n sự 2015; hoản 1 Điều 166; Điều 170 Luật đất đai.

1. Chấp nhận ột phần yêu cầu hởi iện đ i lại tài sản là quyền sử dụng đất của ông Phạ Tiến H và à Phạ Thị M đối với anh Phạ Văn B và chị Đặng Thị Y.

2. Buộc anh Phạ Văn B và chị Đặng Thị Y phải tự tháo rỡ tường ao trả cho ông H, bà M với diện tích đất 2,1m2, có các cạnh như sau:

Cạnh phía Na giáp đất của ông H, từ điể A đến B dài 0,75 t; cạnh B c giáp tường ao y gạch đỏ cũ, từ điể D đến điể C dài 0,75 t; cạnh Đông giáp nhà của anh B từ điể A đến điể D dài 2,8 t; cạnh T y giáp đất của ông H từ điể B đến điể C dài 2,8 mét.( có s đồ è theo).

3. Bác yêu cầu hởi iện của ông Phạ Tiến H và à Phạ Thị M đối với diện tích đất gia đình anh B là đường ống thoát nước có chiều rộng 25c , dài 16,5 , tổng diện tích 4,1 2.

4. Ngoài ra, án s th c n tuY chi phí th định, định giá tài sản, án phí, quyền háng cáo và iện pháp thi hành án.

5. Ngày 18-6-2021 vợ chồng ông Phạ Tiến H và à Phạ Thị M là nguyên đ n và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án có đ n háng cáo với nội dung: Không đồng với việc T a án tuY bác yêu cầu hởi iện của ông H đối với diện tích đất gia đình anh B là đường ống thoát nước có chiều rộng 25c , dài 16,5 , tổng diện tích 4,1 2.

6. Ngày 21-6-2021 anh Phạ V B là ị đ n trong vụ án có đ n háng cáo với nội dung: Đề nghị T a án cấp phúc th , e

t sửa toàn ộ ản án s th theo hướng ác toàn ộ yêu cầu hởi iện của nguyên đ n.

* Tại phiên toà phúc th : Nguyên đ n ông Phạ Tiến H vẫn gi nguyên yêu cầu hởi iện, ông H và bà M vẫn gi nguyên yêu cầu kháng cáo, anh Phạ Văn B và luật sư Đà Huy Hùng hông chấp nhận yêu cầu háng cáo của ông H, bà M vẫn gi nguyên yêu cầu háng cáo, các đư ng sự hông thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

* Đại diện Viện iể sát nh n d n t nh Na Định tha gia phiên t a phát iểu iến:

Về tố tụng: Th phán chủ tọa phiên t a, Hội đồng t ử và thư

phiên t a đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng d n sự. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên t a phúc th , nh ng người tha gia tố tụng chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng d n sự, quyền lợi của các đư ng sự được ảo đả .

Về nội dung háng cáo: Căn cứ hoản 2 Điều 308; Điều 309 BLTTDS đề nghị sửa ản án s th . Theo ết quả đo đạc, th định ngày 28-01-2021 của Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh đã cho ết quả cạnh phía na của nhà anh B đang sử dụng dài 5,25 , căn cứ vào lời hai của ông H, bà M, chị T, ông Y1 thì cạnh phía na của nhà anh B ch dài có 5 thừa 0,25 . Giấy àn giao đất đề ngày 18-7-2021 anh B, chị Y đưa ra là hông có c sở chấp nhận vì ch

của ông H là do chị T tên là hông đúng theo quy định của pháp luật. Có căn cứ hẳng định vợ chồng anh B, chị Y y dựng đường ống dẫn nước thải có chiều rộng 0,25 chiều dài 16,5 là hông đúng ranh giới lần sang thửa đất của ông H, bà M diện tích 4,1 2. Kháng cáo của ông H, bà M là có c s chấp nhận. Kháng cáo của anh B là không có c sở để chấp nhận. Về án phí đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau hi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ s vụ án được e t tại phiên toà, căn cứ vào ết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng t ử t kHg cáo của vợ chồng ông Phạ Tiến H, à Phạ Thị M và anh Phạ Văn B thì thấy:

Về tố tụng: T a án cấp s th c n có nh ng thiếu sót sau cần rút inh nghiệ : Trong hồ s vụ án hông có Quyết định e

t th định tại chỗ, trong phần thủ tục t đầu phiên t a Chủ tọa hông giải thích về việc đăng công ố ản án lên cổng thông tin điện tử của ngành T a án.

Xét kháng cáo của vợ chồng ông Phạ Tiến H, à Phạ Thị M và anh Phạ Văn B là trong thời hạn luật định phù hợp với quy định tại hoản 1 Điều 272; hoản 1 Điều 273; Điều 276 Bộ luật Tố tụng D n sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận e

t giải quyết.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: T a án cấp s th đã ác định quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo quy định tại hoản 9 Điều 26 của Bộ luật tố tụng d n sự là hoàn toàn chính ác.

Về nguồn gốc, quá trình sử dụng quyền sử dụng đất của hai hộ: Vợ chồng ông Phạ Tiến H và à Phạ Thị M quản l sử dụng thửa đất 3103 tờ ản đồ số 6 ã Liê Hải, diện tích 505 2, trong đó 275 2 đất ở, 230 2 đất vườn tạp, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nă 1995 mang tên ông Phạ Tiến H. Nă 2000 ông H, bà M cho vợ chồng anh Phạ Việt V ột phần đất để ra ở riêng, ch nói iệng, hông lập V ản gì, hi đo đất cho anh V, có ông Nguyễn Tiến Y1 (e rể ông H) đến đo hộ cũng hông lập V ản để ác định các cạnh đông t y tứ cận và diện tích của thửa đất. sau hi nhận đất vợ chồng anh V y nhà cấp 4 có chiều rộng 05 t, chiều dài nhà có hiên 06 t và 01 hoảng s n phía trước, c n lại là đất trống, sau đó ông H và bà M cho vợ chồng anh V thê 01 t ở cạnh T y để là lối đi ra sau nhà, nên cạnh T y nhà anh V giáp đất ở của ông H, bà M có hình ch L. Đến nă 2001 vợ chồng anh V án nhà và đất đang ở cho vợ chồng anh Phạ V B, vợ chồng anh B ở trên đất đó từ nă 2001 cho đến nay. Nă 2005 vợ chồng ông H đi Biên H a ở với con trai tên Phạ Quang Vịnh, nhà đất ở nhà của ông H, bà M hóa cửa hông giao cho ai quản l trông coi. Đến nă 2011 vợ chồng ông H phát hiện vợ chồng anh B y nhà lấn chiế sang đất của gia đình ông H, hông đúng với hiện trạng thổ đất à ông H bà M trước đ y cho anh V. Nay ông H là đ n hởi iện và đề nghị T a án giải quyết uộc vợ chồng anh Phạ Văn B phải trả lại phần đất đã lấn chiế sang đất của gia đình ông H; Cạnh T y phần nhà ở của anh B đặt đường ống thoát nước rộng 25 c , chiều dài 16,5 t = 4,1 2 ; tường ao nhà cấp 4 cũ vợ chồng anh B lấn chiế rộng 01 t, dài 2,8 t = 2,8 2. Tổng diện tích vợ chồng anh B lấn chiế 6,9 2. Hiện tại toàn ộ diện tích của gia đình anh B đang sử dụng vẫn trong diện tích đất 505 2 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ang tên ông H.

X t yêu cầu hởi iện của ông Phạ Tiến H yêu cầu T a án giải quyết uộc vợ chồng anh Phạ Văn B phải trả lại phần đất đã lấn chiế sang đất của gia đình ông H diện tích là 6,9 2 thì thấy. Căn cứ các tài liệu do ông H cung cấp và UBND ã Liê Hải cung cấp gồ các iên ản là việc, h a giải từ 2018 đến nă 2020 của UBND ã Liê Hải, ông Phạ Tiến H và à Phạ Thị M đề nghị UBND ã Liê Hải giải quyết diện tích đất 2,1 2 có chiều rộng 0,75cm x chiều dài 2,8 = 2,1 2. Ông H và bà M hông yêu cầu UBND ã giải quY1 đối với diện tích đất à gia đình anh B đặt đường ống thoát nước, có chiều rộng 25cm x 16,5 mét = 4,1m2, đến ngày ngày 08-12-2020 ông H là đ n hởi iện yều cầu T a án giải quY1 thê diện tích đất 4,1 2. HĐXX t thấy: Nă 2000 ông H, bà M tách đất cho vợ chồng anh Phạ Việt V và chị Nguyễn Thị T hông thông qua chính quyền địa phư ng và cũng hông lập V ản giấy tờ gì để ác định các cạnh Đông T y tứ cận và diện tích sử dụng, nên hông có căn cứ nào ác định là ông H, bà M cho vợ chồng anh V sử dụng đất có chiều rộng cạnh Na giáp đường làng là 05 t hay 5,25 t. Trong quá trình vợ chồng anh B, chị Y nhận đất sử dụng y dựng các công trình trên đất từ nă 2001 cho đến nă 2018 đã được 17 nă vợ chồng ông H, bà M đều iết nhưng không có

iến gì, hai ên hông ảy ra tranh chấp gì. Tại iên ản bàn giao nhà và đất ở đề ngày 18-7-2001 do ông Đinh Xu n N cán ộ địa chính ã Liê Hải lập cũng ghi chiều cạnh phía na của đất anh V chuyển nhượng cho vợ chồng anh B là 5,25m, V ản này có ác nhận của Ủy an nh n d n ã. Do vậy HĐXX hông có căn cứ ác định là gia đình anh Phạ Văn B đã lấn chiế 4,1 2 đất của gia đình ông H để đặt đường ống thoát nước. Yêu cầu hởi iện này của ông H hông có căn cứ chấp nhận.

X t việc chuyển nhượng nhà đất của vợ chồng anh Phạ Việt V, chị Nguyễn Thị T thì thấy: Nă 2001 anh V chuyển nhượng nhà và quyền sử dụng đất cho vợ chồng anh Phạ Văn B. Ông N nguyên là cán ộ địa chính ã có lập iên ản bàn giao nhà và đất ở ghi các cạnh đông t y tứ cận và diện tích sử dụng, vợ chồng anh B đã trả đủ tiền và nhận đất để sử dụng, y dựng nhà ở từ nă 2001 cho đến nay. Nă 2018 ông H và bà M đề nghị UBND ã Liê Hải giải quyết tranh chấp đối với diện tích vợ chồng anh B y tường ao lấn chiế 2,1m2, UBND ã đã h a giải nhiều lần và tại iên ản ngày 28-6-2019 anh B đã đồng trả lại cho ông H và bà M diện tích 2,1 2, UBND ã đã đo đạc thực địa để hai gia đình thực hiện trả đất và là lại hợp đồng chuyển nhượng nhưng sau đó do hai gia đình ông H và anh B không thống nhất được. Từ căn cứ trên HĐXX có căn cứ ác định trong thời gian ông H, bà M v ng nhà, gia đình anh B đã y tường ao lấn chiế sang đất của gia đình ông H, bà M diện tích 2,1 2, nên cần uộc vợ chồng anh Phạ Văn B và chị Đặng Thị Y phải có trách nhiệ tháo dỡ tường ao, trả lại cho vợ chồng ông H, bà M 2,1m2 có chiều rộng 0,75c

chiều dài 2,8 ( có s đồ è theo) như ản án s th nhận định là có căn cứ chấp nhận.

Xét iên ản bàn giao nhà và đất ở đề ngày 18-7-2001 do ông Đinh Xuân N nguyên cán ộ địa chính ã Liê Hải lập và iến của ông H cho rằng là giả ạo. Nội dung trong iên ản ghi tên các thành phần tha gia là ông H, anh B, ông Phạ V Khôi trưởng ó và ông N, nhưng

iên ản ch có ông N, anh B, chị Y là người ua, c n ch

tên ông H lại do chị T vợ anh V ký, trong V ản có ghi căn cứ đ n đề nghị chuyển quyền sử dụng đất của ông H nhưng thực tế ông H hông là đ n và hông iết nội dung iên ản. Như vậy HĐXX đủ căn cứ ác định iên ản bàn giao nhà và đất ở đề ngày 18-7-2001 do ông Đinh Xu n N lập, về hình thức và nội dung V ản hông đả ảo đúng quy định của pháp luật nên hông được chấp nhận.

Qua nh ng ph n tích nêu trên đã cho thấy nh ng ết luận trong ản án s th là hoàn toàn phù hợp với nh ng quy định của pháp luật, quyền và lợi ích hợp pháp của các ên đư ng sự được pháp luật ảo vệ hông ị

hại. T a án cấp s th đã áp dụng đúng các quy định của pháp luật để giải quyết vụ án. Tại phiên t a phúc th vợ chồng ông Phạ Tiến H, à Phạ Thị M và anh Phạ Văn B cũng hông đưa ra được các chứng cứ và l lẽ để chứng M cho yêu cầu háng cáo của ình là có căn cứ và hợp pháp. Vì vậy yêu cầu háng cáo của ông H, bà M, anh B hông được chấp nhận cần gi nguyên quyết định của ản án s th .

Án phí d n sự phúc th m: Do kháng cáo của ông Phạ Tiến H và anh Phạ Văn B hông được chấp nhận nên cần uộc ông H, anh B phải nộp án phí d n sự phúc th . Số tiền ông H, anh B đã nộp tạ ứng án phí d n sự phúc th

ỗi người 300.000 đồng theo iên lai thu tiền số AA/2019/0002420 ngày 21-6-2021 và số AA/2019/0002418 ngày 21-6-2021 tại Chi cục thi hành án d n sự huyện Trực Ninh, t nh Na Định sẽ được đối trừ vào số tiền án phí phúc th ông H, anh B phải nộp. Do kháng cáo của à Phạ Thị M hông được chấp nhận nên à M phải nộp tiền án phí d n sự phúc th , nhưng hiện nay à M là người cao tuổi, đã có đ n in iễn án phí có ác nhận của chính quyền địa phư ng, theo quy định tại điể đ hoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy an thường vụ Quốc hội thì à M được iễn toàn ộ án phí d n sự phúc th .

Nh ng quyết định hác của bản án s th

hông ị háng cáo, kháng nghị Hội đồng t ử hông giải quY1, có hiệu lực pháp luật ể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào hoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng d n sự. Gi nguyên ản án s th .

Căn cứ Điều 166; Điều 174; Điều 175; Điều 176 Bộ luật d n sự 2015; hoản 1 Điều 166; Điều 170; Điều 203 Luật đất đai nă 2013; Điều 147; Điều 148; của Bộ luật Tố tụng d n sự nă 2015; điể đ hoản 1 Điều 12, hoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an thường vụ Quốc hội quy định về ức thu, iễn, giả , thu, nộp, quản l sử dụng án phí và lệ phí T a án.

1. Chấp nhận ột phần yêu cầu hởi iện đ i lại tài sản là quyền sử dụng đất của ông Phạ Tiến H đối với anh Phạ Văn B.

2. Buộc vợ chồng anh Phạ Văn B và chị Đặng Thị Y phải có trách nhiệ tự tháo rỡ tường ao trả cho vợ chồng ông Phạ Tiến H, bà Phạ Thị M với diện tích đất 2,1m2, có các cạnh như sau:

Cạnh phía Na giáp đất của ông H, từ điể A đến B dài 0,75 t; cạnh B c giáp tường ao y gạch đỏ cũ, từ điể D đến điể C dài 0,75 t; cạnh Đông giáp nhà của anh B từ điể A đến điể D dài 2,8 t; cạnh T y giáp đất của ông H từ điể B đến điể C dài 2,8 mét.

(Có sơ đồ x c định ranh giới chi tiết quyền sử dụng đất kèm theo quY1 định của bản n)

3. Vợ chồng ông Phạ Tiến H, à Phạ Thị M, vợ chồng anh Phạ Văn B và chị Đặng Thị Y có quyền liên hệ với c quan nhà nước có th quyền để đăng là thủ tục điều ch nh lại và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định của ản án tại c quan Nhà nước có th quyền theo quy định của pháp luật đất đai.

4. Không chấp nhận yêu cầu hởi iện của ông Phạ Tiến H đối với diện tích đất vợ chồng anh Phạ Văn B và chị Đặng Thị Y là đường ống thoát nước có chiều rộng 25c , dài 16,5 , tổng diện tích 4,1 2.

5. Về chi phí th định, định giá tài sản: Buộc vợ chồng anh Phạ Văn B và chị Đặng Thị Y hoàn trả cho vợ chồng ông Phạ Tiến H và à Phạ Thị M số tiền 1.500.000đồng tiền chi phí th định, định giá.

6. Án phí d n sự s th : Buộc vợ chồng anh Phạ Văn B và chị Đặng Thị Y phải nộp 300.000đồng.

Ông Phạ Tiến H và à Phạ Thị M là người cao tuổi được iễn nộp tiền án phí. Hoàn trả lại cho ông H số tiền 300.000đồng tạ ứng án phí phúc th theo iên lai thu tiền số AA/2019/0002261 ngày 08-12-2020 của Chi cục Thi hành án huyện Trực Ninh.

7. Án phí d n sự phúc th : Miễn án phí phúc th cho à Phạ Thị M.

Ông Phạ Tiến H và anh Phạ Văn B ỗi người phải nộp là 300.000đ, nhưng được đối trừ với số tiền ông H, anh B đã nộp tạ ứng án phí d n sự phúc th

ỗi người là 300.000đ theo các iên lai số AA/2019/0002420 ngày 21-6-2021 và số AA/2019/0002418 ngày 21-6-2021 tại Chi cục thi hành án d n sự huyện Trực Ninh, t nh Na Định. Ông H, anh B đã nộp đủ án phí d n sự phúc th .

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc th có hiệu lực thi hành ể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ