vanban.org

Bản án 85/2020/HSST — Hình sự

TAND TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 28/04/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thị Thanh N và bị cáo Đặng Ngọc N1 phạm tội “Đánh bạc”

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Thanh N 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho bị cáo được hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 tháng tính từ ngày tuyên án. Xử phạt: Bị cáo Đặng Ngọc N1 12 (mười hai) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho bị cáo được hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Thanh N - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thị Thanh N và bị cáo Đặng Ngọc N1 phạm tội “Đánh bạc”
  • Căn cứ chính? Điều 321 Bộ luật hình sự Tuyên bố; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TP. BUÔN MA THUỘT
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2020/HSST
Ngày: 28/4/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Trung và ông Nguyễn Ngọc Khương

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài Trang - Thư ký Tòa án nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Đinh Văn Hải – Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 28/4/2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 62/2020/TLST-HS, ngày 16 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2020/QĐXXST-HS, ngày 15 tháng 4 năm 2020, đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Thị Thanh N; Sinh ngày 07 tháng 4 năm 1968; Tại: tỉnh Bình Định; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: 192/15/27 đường V, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Con ông: Nguyễn Thanh T, sinh năm: 1941; Con bà: Trương Thị B, sinh năm: 1941; Bị cáo có chồng là Đặng Ngọc N, sinh năm: 1964; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm: 1990, con nhỏ sinh năm: 1996. Hiện đều trú tại phường K, thành phố B. Bị cáo hiện đang được tại ngoại theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú.

2. Họ và tên: Đặng Ngọc N1; Sinh ngày 04 tháng 6 năm 1964; Tại tỉnh Phú Yên; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: 192/15/27 đường V, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Con ông: Đặng Văn B (đã chết); Con bà: Phạm Thị T, sinh năm: 1940; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm: 1968; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm: 1990, con nhỏ sinh năm: 1996. Hiện đều trú tại phường K, thành phố B.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Vũ Văn H – Sinh năm: 1963 ( Vắng mặt) Địa chỉ: Liên gia 9, tổ dân phố 9, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk

2. Anh Nguyễn Huy H – Sinh năm: 2002 ( Vắng mặt) Địa chỉ: Liên gia 10, tổ dân phố 6, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk

3. Bà Phạm Thị T – Sinh năm: 1940 ( Có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: 192/15/27 đường V, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

4. Anh Trần Minh Q– Sinh năm: 2004 ( Vắng mặt) Địa chỉ: 337/16/34 đường V, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

5. Bà Nguyễn Thị N – Sinh năm: 1963 ( Vắng mặt) Địa chỉ: tổ dân phố 8, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk

6. Anh Nguyễn Văn T – Sinh năm: 2001 ( Vắng mặt) Địa chỉ: tổ dân phố 5, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk

- Người làm chứng:

Anh Hùng Minh Trần Đ – Sinh năm: 2002 ( Vắng mặt) Địa chỉ: tổ dân phố 7, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị Thanh N cùng chồng là Đặng Ngọc N1 mở quầy bán nước giải khát tại vỉa hè khu vực đầu đường hẻm 192 đường V, phường K, thành phố B. Quá trình buôn bán tại đây, N thấy nhiều người hỏi về việc ghi số lô đề, nên nảy sinh ý định đánh bạc bằng hình thức ghi số lô đề cho những người chơi số đề có nhu cầu để kiếm thêm thu nhập. Hàng ngày, khi bán nước thì N nhận ghi số lô đề cho những người chơi bằng cách ghi phơi đề vào một tờ giấy màu hồng, mặt sau được in qua một tờ giấy màu xanh. Sau đó bản chính màu hồng N giao cho người chơi, còn bản sao màu xanh thì N giữ lại để đối chiếu khi người chơi trúng. Đến khoảng 17 giờ hàng ngày thì N dọn dẹp quán nước vỉa hè rồi đi về nhà tại địa chỉ 192/15/27 đường V, phường K, thành phố B. Tại đây, N đưa cho N1 các phơi đề đã ghi trong ngày, sau đó N1 sẽ tổng hợp các phơi đề vào tờ giấy kẻ ô ly (Còn gọi là tịch đề) còn N sẽ kiểm đếm số tiền thu được của các con bạc. Căn cứ để tính thắng thua thông qua kết quả xổ số của các Công ty xổ số kiến thiết trong ngày, đối với đài Bình Định và đài Quảng Bình, sẽ lấy kết quả xổ số của các Công ty xổ số thuộc miền Trung. Vào ngày 10/10/2019, N chỉ ghi số đề cho các con bạc ở đài Nam kết quả xổ số của Công ty xổ số kiến thiết tỉnh Bình Định hoặc tỉnh Quảng Bình.

Các con bạc khai nhận:

Nguyễn Văn T khai: Khoảng 16 giờ, ngày 10/10/2019 T đến quầy bán nước của N đầu hẻm 192 đường V, để đánh bạc ghi đề bao lô 5 điểm số 04; Đánh đầu đuôi số 04 và số 11 với số tiền là 100.000 đồng đài Bình Định. Tổng số tiền T đưa cho N là 165.000 đồng, đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày T dò kết quả xổ số đài Bình Định nhưng không trúng.

Nguyễn Huy H khai: H đến gặp N tại quán nước đầu hẻm 192 đường V, đánh bạc ghi đề bao lô số (39 x 5) điểm, với số tiền là 70.000 đồng, đến chiều cùng ngày H dò kết quả xổ số đài Bình Định ngày 10/10/2019 nhưng không trúng.

Trần Minh Q khai: Khoảng 16 giờ 30 ngày 10/10/2019, Q đi đến quầy bán nước của Nguyễn Thị Thanh N và tham gia đánh bạc bằng hình thức ghi số lô đề. Q ghi số 30 đánh 10 điểm và số 44 đánh 10 điểm đài Bình Định, tổng cộng là 280.000 đồng. Đến 17 giờ 30 phút cùng ngày Q dò kết quả xổ số đài Bình Định thấy trúng số 44 với số tiền thắng cược là 700.000 đồng, sau đó Q nhờ anh Nguyễn Công D, sinh năm: 2003, trú tại: 264/38 đường V, phường K, thành phố B, điều khiển xe mô tô chở Q đến chỗ ở của N 192/15/27 để lấy tiền thắng cược, thì bị phát hiện.

Nguyễn Thị N khai: Khoảng 14 giờ 55 phút, ngày 10/10/2019, N sử dụng số thuê bao 0987044084 gắn vào điện thoại nhãn hiệu Samsung Viettel, nhắn tin vào số thuê bao 0935912442 điện thoại của N để tham gia đánh bạc bằng hình thức ghi số đề với nội dung là: “33x60; 73x30; 28x10” (Đánh bao lô số 33 là 10 điểm; số 73 là 30 điểm, số 28 là 10 điểm) đài Bình Định. Tổng số điểm đánh bao lô là 100 điểm tương ứng với số tiền là 1.400.000 đồng, đến chiều cùng ngày N dò kết quả xổ số đài Bình Định thấy trúng số 28 thắng 10 điểm tương ứng với số tiền thắng cược là 700.000 đồng, N chưa đến lấy tiền thắng cược thì bị phát hiện, thu giữ của Nguyễn Thị N 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Viettel, màu đen, model GT-E1081T sử dụng vào việc đánh bạc.

Vũ Văn H khai: Khoảng 16 giờ 37 phút ngày 10/10/2019, H sử dụng số thuê bao 0935984669 điện thoại của H nhắn tin vào số thuê bao 0935912442 điện thoại của N để đánh bạc bằng hình thức nghi số đề với nội dung: “Bđinh.67x30.đâu.67,100chót bỏ”. (Tức là số 67 đánh 30 điểm và đánh đầu số 67 với số tiền 100.000 đồng đài Bình Định), tổng số tiền H đánh bạc ghi đề với N là 485.000 đồng. Đến khoảng 17 giờ 30 cùng ngày, sau khi dò kết quả xổ số đài Bình Định thấy trúng số 67, 30 điểm tương ứng với số tiền thắng cược là 2.100.000 đồng nên H đi đến chỗ ở của N, địa chỉ ở 192/15/27 đường V, phường K để lấy tiền thắng cược thì bị phát hiện bắt quả tang, thu giữ trên người của Vũ Văn H số tiền 3.705.000 đồng, (Trong đó 1.615.000 đồng là tiền H sử dụng vào việc đánh bạc, 2.090.000 đồng, là tiền H không sử dụng vào việc đánh bạc) và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia 6300 màu xám H sử dụng vào việc đánh bạc.

Ngoài ra, còn nhiều con bạc khác tham gia ghi số đề với Nguyễn Thị Thanh N và Đặng Ngọc N1 (Không rõ nhân thân lai lịch), nên Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa làm việc được.

Đối với số tiền 23.117.000đ, trong đó 17.867.000 đồng, tiền nhận ghi đề đài (Bình Định), 3.150.000 đồng thắng đề đài (Bình Định) và 2.100.000 đồng là tiền thắng đề của Vũ Văn H 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 230, màu xám số Imei 1: 357318087066226, số imei 2: 357318089243724; 02 máy tính số nhãn hiệu Casio JS20TV; 01 chiếc kéo có cán màu đỏ; 01 chiếc bàn bằng kim loại, mặt bàn hình tròn, đường kính 1,17m, cao 0,74m; 02 chiếc ghế nhựa màu đỏ có kích thước (33 x 33 x 44) cm, là tiền, tài sản của các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Đối với số tiền 727.000 đồng, tiền nhận ghi đề đài (Quảng Bình); 1.400.000 đồng) tiền thắng đề đài (Quảng Bình) là tiền của các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Đối với 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia 6300 màu xám, số Imei 355714026966538 thu giữ của Vũ Văn H; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Viettel, màu đen, model GT-E1081T số imei: 35614904590591, thu giữ của Nguyễn Thị N, là công cụ sử dụng vào việc đánh bạc, nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác xét xử.

Đối với 01 cuốn sổ có hai loại giấy màu xanh và đỏ kích thước (35x10)cm là công cụ, phương tiện để các bị cáo N và N1 sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 21 phơi đề và bảng tổng hợp phơi đề (Tịch đề) là tang vật của vụ án nên cần tiếp tục tạm giữ lưu giữ trong hồ sơ để phục vụ công tác xét xử.

Tại Bản cáo trạng số: 74/CT-VKS-TPBMT ngày 12/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thị Thanh N và Đặng Ngọc N1 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk đã phân tích, chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Thị Thanh N và Đặng Ngọc N1 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự, như nội dung bản Cáo trạng số: 74/CT-VKS-TPBMT ngày 12/3/2020, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thị Thanh N và bị cáo Đặng Ngọc N1 phạm tội “Đánh bạc”

Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Thanh N mức án từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng tính từ ngày tuyên án.

Xử phạt: Bị cáo Đặng Ngọc N1 mức án từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng tính từ ngày tuyên án.

Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Về xử lý vật chứng.

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 23.117.000 đồng, là tiền nhận ghi đề và tiền thắng đề của các con bạc cụ thể: 17.867.000 đồng, tiền nhận ghi đề đài (Bình Định); 3.150.000 đồng thắng đề đài (Bình Định) và 2.100.000 đồng là tiền thắng đề của Vũ Văn H; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 230, màu xám số Imei 1: 357318087066226, số imei 2: 357318089243724; 02 máy tính số nhãn hiệu Casio JS20TV; 01 chiếc kéo có cán màu đỏ; 01 chiếc bàn bằng kim loại, mặt bàn hình tròn, đường kính 1,17m, cao 0,74m; 02 chiếc ghế nhựa màu đỏ có kích thước (33 x 33 x 44) cm, là tiền, tài sản của các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 727.000 đồng, tiền nhận ghi đề đài (Quảng Bình); 1.400.000 đồng tiền thắng đề đài (Quảng Bình) là tiền của các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia 6300 màu xám, số Imei 355714026966538 thu giữ của Vũ Văn H; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Viettel, màu đen, model GT-E1081T số imei: 35614904590591 của Nguyễn Thị N (đã qua sử dụng) là công cụ được các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

Tịch thu tiêu hủy: Đối với 01 cuốn sổ có hai loại giấy màu xanh và đỏ kích thước (35x10)cm là công cụ, phương tiện để các bị cáo N và N1 sử dụng vào việc phạm tội.

Chấp nhận Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho Vũ Văn H số tiền 1.605.000 đồng không liên quan đến việc đánh bạc nhận sử dụng.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị Thanh N số tiền 8.431.000 đồng không liên quan đến việc phạm tội nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.

Chấp nhận cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trao trả chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia, loại 220, màu đen thu giữ của bị cáo Đặng Ngọc N1 không liên quan đến việc phạm tội nhận sử dụng.

Các bị cáo không có ý kiến đối đáp tranh luận gì, mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra tại phiên toà.

Như vậy đã có đủ cơ sở pháp lý để kết luận hành vi của các bị cáo Nguyễn Thị Thanh N và Đặng Ngọc N1 đã phạm tội: “Đánh bạc”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Điều 321 Bộ luật hình sự quy định:

"1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000đồng đến dưới 50.000.000đồng hoặc dưới 5.000.000đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000đồng đến 100.000.000đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Xét hành vi của các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo là công dân đủ tuổi trưởng thành và khả năng nhận thức được rằng hành vi đánh bạc là hành vi vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm, mọi hành vi đánh bạc sẽ bị pháp luật trừng trị, hành vi đánh bạc còn kéo theo nhiều tệ nạn xấu khác như gia đình tan vỡ, trộm cắp, cướp giật….. làm mất trật tự tại địa phương. Tuy nhiên với ý thức xem thường pháp luật, các bị cáo muốn có tiền nhưng không muốn bỏ sức lao động nên các bị cáo đã thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức nhận ghi lô đề trên kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Bình Định với tổng số tiền là 23.117.000 đồng.

Trong vụ án này, các bị cáo đã cùng thực hiện hành vi đánh bạc, tuy nhiên tính chất, vai trò, mức độ tham gia của từng bị cáo có khác nhau, do vậy cần phân tích cụ thể để áp dụng mức hình phạt đối với từng bị cáo cho phù hợp cụ thể:

Đối với bị cáo Nguyễn Thị Thanh N là người trực tiếp đánh bạc bằng hình thức ghi số lô đề cho những người chơi số đề có nhu cầu để kiếm thêm thu nhập trên kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Bình Định với tổng số tiền 23.117.000 đồng, thì bị bắt quả tang. Vì vậy, cần phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Đối với bị cáo Đặng Ngọc N1 là người trực tiếp tổng hợp các phơi đề vào tờ giấy kẻ ô ly do N là người đưa cho N1 các phơi đề đã ghi trong ngày, còn N sẽ kiểm đếm số tiền thu được của các con bạc. Vì vậy, cũng cần phải có một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Xét về nhân thân của các bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, số tiền đánh bạc không lớn, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng các bị cáo có nhân thân tốt và đều có hoàn cảnh khó khăn do vậy cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS, để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo thể hiện tính nhân đạo khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

Về hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình xét xử, tại phiên tòa các bị cáo cũng không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều đúng theo quy định của pháp luật.

Từ những nhận định nêu trên xét thấy bị cáo Nguyễn Thị Thanh N và bị cáo Đặng Ngọc N1 có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự và có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần giao các bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát giáo dục bị cáo là đủ tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội về sau và phù hợp với quy định của pháp luật.

Ngoài ra các bị cáo Nguyễn Thị Thanh N và Đặng Ngọc N1 còn có hành vi nhận ghi lô đề đánh bạc trên kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Quảng Bình của 01 số đối tượng (Không rõ nhân thân lai lịch) với tổng số tiền là 2.127.000 đồng, chưa đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc, nên Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, đối với N và N1, là phù hợp.

Trong vụ án này đối với Nguyễn Văn T, Nguyễn Huy H, Trần Minh Q, Nguyễn Thị N, Vũ Văn H và 01 số đối tượng khác, đã tham gia đánh bạc dưới hình thức ghi lô đề với các bị cáo Nguyễn Thị Thanh N, Đặng Ngọc N với số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng. Bản thân các đối tượng này không có tiền án, tiền sự về hành vi Đánh bạc, Gá bạc, Tổ chức đánh bạc. Do vậy, Công an thành phố Buôn Ma Thuột, đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.

Đối với mái hiên căn nhà 192/15/27 đường V, phường K, thành phố B, là tài sản của bà Phạm Thị T (Là mẹ ruột của bị cáo Đặng Ngọc N1) cho vợ chồng N1, N mượn để ở. Việc N, N1 sử dụng hiên nhà trên làm nơi nhận ghi lô đề đánh bạc, thì bà T không biết. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, không tiến hành kê biên, định giá và không đề cập xử lý đối với bà T, là phù hợp.

Đối với nơi bị cáo N nhận ghi lô đề của các con bạc, là vỉa hè đường V, phường K, thành phố B, nên Cơ quan điều ra không đề cập xử lý.

Đối với hành vi đánh bạc của các con bạc (Không xác định được nhân thân lai lịch) đã ghi lô đề xổ số kiến thiết tỉnh Bình Định và Quảng Bình với N và N1, hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch của các đối tượng này, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, đã tách ra khỏi vụ án tiếp tục điều tra xác minh xử lý sau.

Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về xử lý vật chứng.

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 23.117.000 đồng, là tiền nhận ghi đề và tiền thắng đề của các con bạc cụ thể: 17.867.000 đồng, tiền nhận ghi đề đài (Bình Định); 3.150.000 đồng thắng đề đài (Bình Định) và 2.100.000 đồng là tiền thắng đề của Vũ Văn H; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 230, màu xám số Imei 1: 357318087066226, số imei 2: 357318089243724; 02 máy tính số nhãn hiệu Casio JS20TV; 01 chiếc kéo có cán màu đỏ; 01 chiếc bàn bằng kim loại, mặt bàn hình tròn, đường kính 1,17m, cao 0,74m; 02 chiếc ghế nhựa màu đỏ có kích thước (33 x 33 x 44) cm, là tiền, tài sản của các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 727.000 đồng, tiền nhận ghi đề đài (Quảng Bình); 1.400.000 đồng tiền thắng đề đài (Quảng Bình) là tiền của các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia 6300 màu xám, số Imei 355714026966538 thu giữ của Vũ Văn H; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Viettel, màu đen, model GT-E1081T số imei: 35614904590591 của Nguyễn Thị N (đã qua sử dụng) là công cụ được các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

Tịch thu tiêu hủy: Đối với 01 cuốn sổ có hai loại giấy màu xanh và đỏ kích thước (35x10)cm là công cụ, phương tiện để các bị cáo N và N1 sử dụng vào việc phạm tội.

Chấp nhận Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho Vũ Văn H số tiền 1.605.000 đồng không liên quan đến việc đánh bạc nhận sử dụng.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị Thanh N số tiền 8.431.000 đồng không liên quan đến việc phạm tội nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.

Chấp nhận cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trao trả chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia, loại 220, màu đen thu giữ của bị cáo Đặng Ngọc N1 không liên quan đến việc phạm tội nhận sử dụng.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thị Thanh N và bị cáo Đặng Ngọc N1 phạm tội “Đánh bạc”

Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1 Điều 51, Khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Thanh N 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho bị cáo được hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 tháng tính từ ngày tuyên án.

Xử phạt: Bị cáo Đặng Ngọc N1 12 (mười hai) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho bị cáo được hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo N và bị cáo N1 cho Uỷ ban nhân dân phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk giám sát giáo dục bị cáo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban nhân dân phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk để giám sát, giáo dục bị cáo trong suốt thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự để giải quyết.

Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 23.117.000 đồng, là tiền nhận ghi đề và tiền thắng đề của các con bạc cụ thể: 17.867.000 đồng, tiền nhận ghi đề đài (Bình Định); 3.150.000 đồng thắng đề đài (Bình Định) và 2.100.000 đồng là tiền thắng đề của Vũ Văn H; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 230, màu xám số Imei 1: 357318087066226, số imei 2: 357318089243724; 02 máy tính số nhãn hiệu Casio JS20TV; 01 chiếc kéo có cán màu đỏ; 01 chiếc bàn bằng kim loại, mặt bàn hình tròn, đường kính 1,17m, cao 0,74m; 02 chiếc ghế nhựa màu đỏ có kích thước (33 x 33 x 44) cm, là tiền, tài sản của các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 727.000 đồng, tiền nhận ghi đề đài (Quảng Bình); 1.400.000 đồng tiền thắng đề đài (Quảng Bình) là tiền của các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia 6300 màu xám, số Imei 355714026966538 thu giữ của Vũ Văn H; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Viettel, màu đen, model GT-E1081T số imei: 35614904590591 của Nguyễn Thị N (đã qua sử dụng) là công cụ được các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

Tịch thu tiêu hủy: Đối với 01 cuốn sổ có hai loại giấy màu xanh và đỏ kích thước (35x10)cm là công cụ, phương tiện để các bị cáo N và N1 sử dụng vào việc phạm tội.

Chấp nhận Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho Vũ Văn H số tiền 1.605.000 đồng không liên quan đến việc đánh bạc nhận sử dụng.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị Thanh N số tiền 8.431.000 đồng không liên quan đến việc phạm tội nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.

Chấp nhận cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trao trả chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia, loại 220, màu đen thu giữ của bị cáo Đặng Ngọc N1 không liên quan đến việc phạm tội nhận sử dụng.

* Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Nguyễn Thị Thanh N và bị cáo Đặng Ngọc N1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ. * Nơi nhận:

- Phòng KTNV&THATAND tỉnh Đắk Lắk

Cỡ chữ